thnlscantho-3
  Tận dụng lợi thế...
 
20/8/2012

 
    KHAI THÁC, TẬN DỤNG 
LỢI THẾ TRONG MÙA NƯỚC NỔI
   PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH ĐỒNG THÁP
 
 
                                                                                  K/S Đặng Hoàng Minh 
 
 
                             PHẦN I: GIỚI THIỆU
 
Các con sông hình thành nên các đồng bằng trên thế giới. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được hình thành từ sông Mekong có nguồn gốc từ Tây Tạng. Đây là con sông lớn nhất Châu Á. Người dân địa phương khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp, có các vấn đề môi trường, cấp nước, lũ, hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng.
 Ở ĐBSCL lũ là hiện tượng tự nhiên, nhìn về lịch sử con người đã phát triển các hệ thống đê bao và quản lý nước.
Năm 1820 Thoại Ngọc Hầu đã khởi đầu đào một kênh chính gọi là kênh Vĩnh Tế từ Châu Đốc đổ ra biển Hà Tiên, từ năm 1880 đến tận ngày nay ĐBSCL là nơi để canh tác nông nghiệp với việc phát triển nhiều con kênh và đê.                                                 
       Trong nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lãnh vực, nhất là trong sản xuất Nông – Lâm – Ngư nghiệp, góp phần phát triển kinh tế, ổn định xã hội, đạt mức tăng trưởng cao so với trung bình của cả nước. Trong đó hoạt động thủy sản đã góp phần không nhỏ, chiếm một tỷ trọng cao trong cơ cấu Nông – Lâm – Ngư nghiệp của tỉnh. Đặc biệt những năm gần đây việc nuôi trồng thuỷ sản có bước phát triển nhanh về diện tích, năng suất và sản lượng, cung cấp một số lượng hàng hóa lớn cho tiêu dùng và xuất khẩu.     
       Việc phát triển thủy sản trong mùa lũ nói riêng mặt trận sản xuất nông nghiệp nói chung còn phải đương đầu với những khó khăn thách thức vì mỗi năm, lũ diễn biến khác nhau, do đó cần phát huy mọi nguồn lực, tận dụng mọi cơ hội thuận lợi, nhằm duy trì và từng bước phát triển sản xuất đạt hiệu quả cao và bền vững, đóng góp quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân và ổn định xã hội.   
 
1. Sự quan tâm thác lợi thế mùa nước nổi
 
       Đồng Tháp là tỉnh có địa hình bình quân thấp so với khu vực Đồng bằng sông Cưủ Long, do địa hình trũng thấp nên việc sản xuất lúa chỉ được tiến hành vào mùa khô, đến mùa mưa hầu như toàn khu vực bị ngập lụt khoảng 4 – 6 tháng, lũ lụt hàng năm tuy đe dọa cuộc sống của người dân, nhưng nó cũng là tác nhân quan trọng cải tạo đất chua, tăng lượng phù sa cho đồng ruộng cũng như rừng tràm, bổ sung nguồn lợi cá tự nhiên từ thượng nguồn và vùng lân cận, chính nguồn lợi cá tự nhiên được tăng cường theo chu kỳ hàng năm này là nguồn thực phẩm cần thiết của cư dân địa phương trong mùa lũ, khi điều kiện chăn nuôi các đối tượng trên cạn khác gặp rất nhiều khó khăn. Vào mùa khô đàn cá tự nhiên sẽ rút xuống sông, rạch khi nước lên tiếp tục sinh sôi nẩy nở.
       Ngoài ra cũng nhờ có nước nổi mà nông dân đã tận dụng việc trồng sen, ấu trong mùa lũ, cây điên điển, bông súng … nghề đan lợp, lưới cước, sản xuất lưởi câu, đóng xuồng, làm dầm chèo … , thu gom lục bình, bắt ốc bươu vàng, chở đất mướn … để góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nông dân và cũng giải quyết việc làm trong mùa lũ.
       Trong chương trình “An sinh vùng lũ” tỉnh Đồng Tháp đang triển khai 204 cụm, tuyến dân cư vượt lũ để bố trí cho 40.000 hộ dân vùng ngập lũ. Đồng thời coi trọng việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi trong đó thủy sản được coi là đối tượng chủ lực trong mùa lũ cần được quan tâm bảo vệ .
       Tuy nhiên hình thức nuôi chủ yếu vẫn là bảo vệ, quản lý và khai thác nguồn lợi cá tự nhiên do lũ đem lại và xây dựng nhiều mô hình nuôi tôm, cá, sen, ấu trong mùa lũ để bổ sung thêm nguồn cá ngoài tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt.
       Trong hoàn cảnh như vậy việc khai thác, tận dụng lợi thế trong mùa nước nổi phát triển nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp, tìm ra các giải pháp mang tính cộng đồng đem lại lợi ít rất lớn cho nhân dân vùng lũ vì nó giải quyết việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống người dân và góp phần phát triển kinh tế xã hội vùng nông thôn ngập lũ.
 
       2- Sống chung với lũ
       Thực hiện chủ trương “chung sống với lũ”, tận dụng và khai thác một cách hiệu quả đặc điểm thuận lợi của lũ lụt trên địa bàn tỉnh nhằm ổn định đời sống người dân và góp phần phát triển kinh tế xã hội vùng nông thôn ngập lũ với mục tiêu:
       - Chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi trên cơ sở sử dụng hợp lý và hiệu quả tài nguyên về sinh thái vùng nước nổi, tận dụng tốt nhất các lợi thế để đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, tạo hướng phát triển nhanh bền vững, trong đó ưu tiên cho việc sản xuất lúa, nuôi, trồng cây thủy sinh như sen, ấu, rau nhút, rau muống,… và khai thác thủy sản; bảo vệ vốn rừng, tạo thêm việc làm góp phần ổn định sản xuất tăng thu nhập cho nông dân vùng lũ.
       - Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản, thủy sinh sẳn có kết hợp chặt chẻ với việc bảo vệ môi trường và các đặc sản của vùng lũ.
       - Nâng cấp xây dựng hạ tầng theo hướng tạo được mô hình phát triển kinh tế xã hội hợp lý và phát triển hệ thống dịch vụ ngành nghề nông thôn cho vùng nông thôn sống chung với lũ. 
       Các giải pháp thực hiện cho các mục tiêu trên cơ sở qui hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn của tỉnh Đồng Tháp của từng giai đoạn để xác định những mô hình sản xuất có hiệu quả phù hợp với điều kiện ngập lũ thường xuyên, xây dựng vùng sản xuất thủy sản tập trung, vùng trồng cây thủy sinh, vùng cải tạo cảnh quan sinh thái phát triển nguồn lợi thủy sản tự nhiên theo hình thức bền vững và hiệu quả.                   
 
                                    PHẦN II
           ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN
 
I. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
            1. Vị trí địa lý:
            Đồng Tháp nằm trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Bắc giáp
Campuchia, nam giáp tỉnh Vĩnh Long, đông giáp tỉnh Long An và Tiền Giang,
tây giáp tỉnh An Giang và Cần Thơ.
Tổng diện tích tự nhiên 3.277 km2; dân số trung bình 1.553.24 người. Có
52,3 km đường biên giới giáp Campuchia nằm trong huyện Hồng Ngự và Tân Hồng.
2. Hệ sinh thái và môi trường:
Hệ sinh thái của Đồng Tháp chủ yếu là hệ sinh thái vùng Đồng Tháp Mười (ĐTM) chứa một hệ động vật và thực vật khá phong phú, đa dạng như rùa, rắn, cá, tôm, trăn, cò, cồng cộc, sếu,….và nhiều cây cỏ rất kỳ thú như: sen, súng, cỏ mồm, tảo, ấu,…
Thuộc hệ sinh thái đất ướt vùng ĐTM, có đa số diện tích đất ẩm và lầy, được bao phủ bởi rừng rậm rất phong phú và cây tràm được coi là đặc thù của Đồng Tháp. Do khai thác rừng không hợp lý đã làm diện tích giảm nhanh đến mức báo động, ảnh hưởng đến mặt bằng hệ sinh thái và môi trường của tỉnh.
Là tỉnh đồng bằng ven sông thuộc hệ thống sông Mékong, không có núi đá. Chịu ảnh hưởng của lũ hàng năm ở mức độ khác nhau.
Diện tích canh tác chủ yếu là nông nghiệp, trồng lúa nước là chủ yếu.
3. Chất lượng môi trường nước:
Đồng Tháp ở đầu nguồn sông Cửu Long, có nguồn nước ngọt quanh năm, không bị nhiễm mặn, tuy nhiên cục bộ theo thời gian vùng trũng sâu thuộc trung tâm ĐTM vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa còn bị ảnh hưởng nước phèn. Sông Tiền có lưu lượng nước bình quân 11.500 m3/s, lớn nhất 41.504 m3/s, nhỏ nhất 2.000 m3/s.
Thời gian từ năm 1976 đến nay, do hệ thống thủy lợi đã vươn sâu vào ĐTM làm cho phèn bị pha loãng, nước lũ rửa trôi phèn, nên phạm vi phèn hiện nay bị thu hẹp đáng kể.
Môi trường rất phù hợp cho các loài thủy sản phát triển qua điều tra cho thấy các đối tượng có giá trị kinh tế như: cá tra, basa, cá lóc, cá rô đồng, cá sặc rằn, cá thát lát, tôm càng xanh,…..ngày càng phát triển.
 
II.DIỂN BIẾN TÌNH HÌNH LŨ
Chế độ thủy văn của tỉnh theo 2 mùa: mùa lũ và mùa kiệt với chế độ bán nhật triều có 2 đỉnh triều trong ngày đêm.
Mùa lũ thường từ tháng 7 – 11 và cứ từ 3 – 5 năm lại có lũ lớn một lần nhưng gần đây lũ lớn xảy ra liên tiếp gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Từ tháng 7 – 8 nước lũ vào đồng ruộng từ các cửa kênh rạch, khi đã vượt bờ kênh, bờ bao tương ứng với mức nước lũ tại Hồng Ngự + 3,5 m lũ bắt đầu tràn đồng qua biên giới và gây ngập lụt tòan bộ khu vực. Đỉnh lũ cao nhất xuất hiện vào tháng 9 – 10, độ ngập sâu trung bình > 2 m đối với khu vực Bắc sông Tiền và < 2 m đối với khu vực Nam sông Tiền. Trong mùa lũ ảnh hưởng của triều không lớn, nhất là khu vực phía Bắc.
Lũ ở ĐBSCL diễn biến phức tạp thường bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 11.
Cường suất lũ lên từ 3 – 4 cm/ngày, cá biệt có những năm cường suất lũ lên từ 8 – 10 cm/ngày nhưng thời gian ngập kéo dài gây sói lở bờ sông, bờ kênh, thị trấn, thị xã ven sông, hệ thống giao thông, ảnh hưởng lớn đến đời sống dân cư, đi lại, học hành, định cư và làm chậm quá trình đô thị hóa nông thôn.
Đỉnh lũ của các năm gần đây diễn biến khá phức tạp năm 1996 đỉnh lũ cao nhất tại Tân Châu là 4,86 m, năm 2003 là 4,06 m và năm cao nhất trong 1 thế kỹ qua xuất hiện vào năm 2000 với đỉnh lũ tại Tân Châu là 5,06 m.
 
 
 
 
 
III. TÁC HẠI CỦA LŨ ĐỐI VỚI KINH TẾ, XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG VÙNG NGẬP LŨ
1.     Kinh tế – xã hội:
-         Về kinh tế:
         Nếu lũ năm 1996 thiệt hại lên đến 317,06 tỷ đồng, trong đó mất trắng và giảm năng suất 21.576 ha lúa do không thu hoặch kịp, hơn 214.000 ngàn căn nhà bị ngập thì năm 2002 đỉnh lũ ở Tân châu cũng xấp xỉ năm 1996, nhưng thiệt hại ước 151,514 tỷ đồng giảm hơn 50%,diện tích lúa mất trắng 165 ha nằm ngoài đê bao, 117.000 nhà bị ngập, số hộ khó khăn giảm xuống. Năm 2000 và 2011 thiệt hại giảm do chủ động phòng tránh lũ.
-         Về xã hội:
Lũ lớn gây ngập sâu làm cho việc giao thông đi lại khó khăn, họat động của ngành Giáo dục và Đào tạo bị gián đọan, các tệ nạn xã hội gia tăng ở một số nơi. Nguồn nước bị ô nhiểm nặng ở các khu đê bao, cụm, tuyến dân cư và nơi dân cư di dời tập trung, việc khám chửa bệnh cho nhân dân gặp nhiều khó khăn, sau mùa lũ các lọai dịch bệnh có khả năng phát sinh và lây lan ở một số nơi.
2. Môi trường và hạ tầng cơ sở:
- Về môi trường:
Trong mùa lũ mực nước dâng cao tràn ngập thì chất lượng nước được cải thiện dần, pH= 6,5 - 7,5, chu kỳ nầy được lập lại hàng năm, sự chua phèn nặng vào đầu mùa mưa và mùa lũ rút cuối kỳ đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho nuôi trồng và nguồn lợi thủy sản. Hầu hết người dân sử dụng nước cho các hoạt động và hoàn trả lại cho các chất độc hại, nguồn nước đang bị ô nhiễm ngày càng tăng do thuốc trừ sâu, trừ cỏ và phân bón … nên họ nhận lại các chất gây ô nhiễm.
Tuy nhiên môi trường nước giữa thời kỳ lũ không bị ảnh hưởng tới các hữu cơ, hàm lượng kim loại nặng đều ở mức cho phép, nên cũng thuận lợi cho một số cây thủy sinh và nuôi trồng thủy sản phát triển.
- Về hạ tầng cơ sở:
Những năm lũ về nhanh và lớn thường gây thiệt hại hạ tầng cơ sở như : nhà cửa các hộ dân, trụ sở cấp xã, giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế, sạt lở bờ sông Tiền, sông Hậu, cơ sở sản xuất, dịch vụ, bưu điện, điện lực…và thiệt hại khá lớn về người, tài sản của nhân dân và nhà nước, làm cho đời sống thêm nhiều khó khăn, ảnh hưởng sản xuất của hàng ngàn hộ dân trong khu vực. 
* Nói chung: lũ luôn luôn ảnh hưởng đến các họat đông kinh tế, xã hội của tỉnh và gây nhiều thiệt hại về người, tài sản của nhân dân và nhà nước.
 
IV. LỢI THẾ CỦA NƯỚC LŨ ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP
 
 Nước lũ hàng năm đóng vai trò của một tác nhân làm vệ sinh đồng ruộng đặc biệt hiệu quả mà không có biện pháp hoá học hay cơ học nào có thể thay thế được. Việc trồng liên tục nhiều vụ trong năm đã buộc người nông dân phải tăng liều lượng phân hoá học và thuốc trừ sâu bệnh, đưa đến hậu quả môi trường trong đê bị ô nhiễm ngày càng nặng hơn.
* Trường hợp lũ lớn
Đối với nông nghiệp lợi thế của Đồng tháp là tỉnh ở vị trí đầu nguồn sông Cửu Long, hàng năm được phù sa bồi đắp, nên đất đai phần lớn màu mở, thuận lợi cho việc đa dạng hóa cây trồng vật nuôi với sản lượng hàng hóa lớn không những đủ cung cấp cho tiêu dùng trong tỉnh mà còn có phần cung cấp cho vùng ĐBSCL, cả nước và xuất khẩu. Tỉnh Đồng Tháp có nhiều cơ hội phát triển cho công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản cho hiện tại và tương lai.
Do đó khi thu hoạch xong lúa vụ hè thu chủ động cho lũ vào với các lợi thế sau:
-         Tăng phù sa .
-         Rửa trôi phèn .
-   Tạo điều kiện cho nguồn lợi thủy sản tự nhiên di cư vào sinh sản , sinh trưởng và phát triển trong các tháng mùa lũ.
- Sinh vật có hại bị tiêu diệt nhiều hơn.
Như vậy, ngay như tác hại của những trận lũ lớn là rõ ràng, thì chúng cũng đem lại cho đồng bằng một lượng phù sa khổng lồ. Lượng phù sa nầy không những được lắng đọng lại giữa đồng bằng, mang đến cho nó những vụ lúa bội thu sau đó, mà còn là nguồn thức ăn vô tận cho các loài thủy sinh phát triển trong suốt 5-6 tháng mùa lũ. Nước lũ cũng có tác dụng rửa trôi phèn đầu mùa mưa, tẩy sạch thuốc trừ sâu sử dụng trên đồng và làm vệ sinh môi trường mặt ruộng. Đặc biệt để hình thành các vùng sản xuất thủy sản hàng hóa (tôm càng xanh và các loại cá đen) phục vụ tốt cho tiêu dùng và xuất khẩu.
* Trường hợp lũ nhỏ
Trong điều kiện khi có lũ nhỏ xuất hiện, thiệt hại như sau:
- Mức xâm nhập mặn sâu hơn vào nội đồng.
- Mức phèn (nhất là phèn hoạt động) gia tăng.
- Sinh vật gây bệnh và điều kiện gây bệnh cho vật nuôi cây trồng gia tăng.
- Nguồn giống tự nhiện của các đối tượng thủy sản có khuynh hướng giãm do mất một số điều kiện cho sinh sản.
 
* Trong trường hợp không lũ
Sẽ xảy ra hạn hán với sự gia tăng nồng độ muối, chế độ nhiệt và mức phèn tăng lên gây khó khăn không nhỏ cho nông nghiệp và thủy sản, đề án sẽ không thực hiện được.
Mùa nước nổi với nông dân là  mùa khai thác thuỷ sản thuận lợi nhất, mùa làm ăn hiệu quả nhất. Với những tiến bộ khoa học - kỹ thuật ngày nay, người dân còn có điều kiện khai thác ngày càng hiệu quả hơn từ việc nuôi trồng trong mùa nước nổi, điều đã được thực tế chứng minh.
 Tuy nhiên trong trường hợp lũ nhỏ và không lũ có những tác động bất lợi nói trên, đã gây ra những tổn thất lớn về kinh tế theo chiều hướng ngày càng gia tăng, chưa kể đến những giảm sút về nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên và có thể nuôi trồng trên đồng ruộng trong mùa lũ. Không những đối với thủy sản mà vụ lúa Đông Xuân và Hè Thu gặp rất nhiều khó khăn trong canh tác và chi phí lón. Từ bao đời, người dân sống trong vùng không dùng từ “lũ”, mà gọi một cách thơ mộng là “mùa nước nổi”, như một hiện tượng thiên nhiên bình thường mà con người có thể khai thác từ đó nhiều lợi ích, chứ không chỉ có những bất lợi.
Đối với ĐBSCL nguồn lao động dồi dào, phần lớn đang làm việc trong lỉnh vực nông nghiệp đã được đào tạo phát huy các ngành nghề nhất là bảo vệ nguồn lợi và khai thác thủy sản trong mùa lũ theo hướng “chung sống với lũ bền vững”             
Một số mô hình kinh tế được hình thành như: nuôi cá lóc trong mùng, nghề đan lờ lợp, dệt chiếu, trồng ấu, trồng sen, nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa, nuôi cá ruộng lúa, nuôi cá tôm bãi bồi,…và các dịch vụ khác trong mùa nước nổi.
   
                                                                                                                                                                                                                                 
 
 
 
V. CÁC CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN VÙNG NGẬP LŨ
1.     Chính sách vay vốn để phát triển sản xuất trong mùa nước nổi
Đối với hộ nông dân có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất, làm các ngành nghề, dịch vụ trong mùa nước đều được các tổ chức tín dụng giải quyết cho vay vốn theo phương án sản xuất.
2. Chính sách đào tạo nghề cho nông dân
Đào tạo nghề cho nông dân ngắn hạn và chuyển giao kỹ thuật cho các hộ dân sống trong mùa nước nổi .
3. Chính sách ưu đải đầu tư phát triển nuôi tôm càng xanh .
4. Chính sách giao đất, sử dụng mặt nước nuôi trồng thủy sản cho ngư dân tạo niềm tin cho các nhà đầu tư sản xuất lâu dài và chính sách ưu đãi đầu tư đối với mặt nước chưa khai thác nuôi trồng thủy sản.
5. Công tác khác
Dù lũ hàng năm lớn hay nhỏ, nhưng nhiều địa phương trong tỉnh đã hình thành nhiều điểm giử trẻ do Hội Phụ nữ đảm trách, phát động phong trào đưa rước học sinh đi học đều và hình thành các điểm cứu trợ, cứu nạn, sẳn sàng túc trực ứng cứu tại các điểm xung yếu. Do đó đã góp phần hạn chế trẻ em bị chết đuối, tăng tỷ lệ học sinh đi học đều hơn so với những năm trước đây.
                               
 
                                                                                   ( còn tiếp)
 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 255677 visitors (928824 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=