thnlscantho-3
  Ngoại giao Trung Quốc...
 
11/9/2012

Phần nào phản ảnh quan điểm Hoa Kỳ ( ? ) về  Trung Quốc ngày nay:

 

Tổng số cộng các Lo Sợ của Bắc Bình ( Bắc Kinh )

G S Tôn Thất Trình

         

        Bài tóan ngã theo phía nào,  Hoa Kỳ hay  Trung Quốc, cũng thật là nan giải cho Việt Nam ngày nay, cũng như trước đây.  Triều Nguyễn đi đến mất nước thời Tự Đức  cuối thế kỷ thứ 19, vì quá tin  sức mạnh  của Tàu  khi cường quốc Pháp xâm lăng và không ngờ Lý Hồng Chương bắt tay Pháp rút quân Thanh về khi Pháp trả lại nhiều quyền lợi và nhượng địa ( ? ) cho Tàu . Hay Việt Nam Cộng Hòa quá  tùy thuộc quân sự,  kinh tế,  chánh trị… của Hoa Kỳ nên sụp đổ mau lẹ  1973 – 75, khi  Nixon - Kissinger đi đêm với Trung Quốc, bỏ rơi ( ? )  đồng minh nhỏ bé … Lo sợ của Trung Quốc về Hoa Kỳ đã được  Đại tướng Lưu Á Châu, chủ nhiệm Lực lựợng Không quân Quân khu Bắc Bình, tỏ bày phần nào  tháng 8 năm 2012. Thế cho nên, có lẽ cũng cần biết rỏ hơn  quan điểm của chuyên viên Hoa Kỳ về hai cường quốc  Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày nay hay trong tương lai gần, để suy luận  cư xử của Việt Nam có thể đôi phần  vô tư , chính xác hơn chăng ?( ? )

         Sau đây là “Cái Nhìn  của Trung Quốc về Hoa Kỳ”, theo quan điểm của  Andrew J. Nathan, giáo sư  Khoa Học Chánh trị tại Viện Đại Học Columbia và Andrew  Scobell, chánh Khoa học gia Chánh trị  của Tập hợp RAND Corporation, tổ chức Nghiên cứu  Chiến lược ( Tình báo và Quốc phòng )  Mỹ, nguyệt san Ngọai Giao – Foreign Affairs đăng tải ở số tháng chín /mười 2012,  tóm tắt sách “ Trung Quốc Tìm kiếm  An Ninh-  China  Search for Security” của hai ông , sẽ xuất bản cuối năm 2012.

      

          “ Cường Quốc – Great Power” là một từ ngữ mơ hồ, nhưng Trung Quốc ngày nay xứng đáng được gọi như vậy trên bất cứ phương diện nào :  lảnh thổ Trung Quốc rộng lớn, vị trí chiến lược, kích thước và động năng của dân Tàu ở nước nhà , giá trị và tỉ xuất tăng trưởng  nền kinh tế  Trung Quốc , khối lượng to lớn  về thương mãi tòan cầu, và sức mạnh  của quân sự Tàu.  Trung Quốc đã trở thành một trong vài quốc gia có quyền lợi quốc gia đáng kể  ở mọi nơi trên thế giới, khiến mọi  quốc gia, mọi tổ chức quốc tế  khác đều buộc lòng phải chú ý tới,  mong muốn hay miễn cưỡng. Có lẽ quan trọng nhất là  nay Trung Quốc  được xem  là một nước duy nhất có cơ đe dọa ưu thế Hoa Kỳ. Thật thế,  Trung Quốc bừng  dậy  đã  đưa đến  các lo sợ  là Trung Quốc một ngày gần đây sẽ tràn ngập các lân bang  và ngày nào đó sẽ thay thế Hoa Kỳ ở  địa vị lảnh bá ( quyền ) tòan cầu.

        

Ngoại trưởng Mỹ-Ngoại trưởng Trung Quốc
   
        
Nhưng nhận thức  lan tràn Trung Quốc  là một  quốc gia xâm lược, bành trướng là không căn cứ. Dù rằng uy quyền tương  đối Trung Quốc đã lớn mạnh đáng kể những thập niên gần đây, các nhiệm vụ chánh yếu của chánh sách ngoại giao Trung Quốc  là phòng thủ, không thay đổi  mấy  kể từ thời Chiến Tranh Lạnh : hầu làm nhụt chí những ảnh hưởng làm mất ổn định  từ ngọai quốc,  tránh mất thêm lảnh thổ (  ngọai trừ việc cưỡng chiếm  Hòang Sa, Trường Sa Việt Nam, Ải Nam Quan- Thác Bản Giốc…,  tranh dành lại đảo Điếu Ngư- Senkoku Nhật … )  giảm bớt các nghi ngại lân bang và giữ vững tăng trưởng kinh tế. Điều đã thay đổi hai chục năm qua,  là nay Trung Quốc đã hội nhập sâu xa với hệ thống kinh tế thế giới mà những ưu tiên  nội địa và miền-vùng  đã biến đổi thành một phần của  lùng kiếm lớn hơn:  để định nghĩa vai trò tòan cầu   phục vụ quyền lợi Tàu , nhưng  đồng thời cũng chiếm được chấp nhận của các quốc gia  khác . 

        Quốc gia chánh yếu trong số này lẽ dĩ nhiên là Hoa Kỳ. Xử lý  chứa đầy quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc  là thách thức nổi bật nhất  cho chánh sách ngọai giao  Bắc Bình hiện nay. Vào lúc dân nước Cờ Hoa- Hoa Kỳ  đang tự hỏi là liệu Trung Quốc vươn lên  có gì tốt đẹp cho quyền lợi Hoa Kỳ không đây hay  chỉ là một đe dọa hiện ra mập mờ,  các nhà làm chánh sách Tàu bối rối  tự hỏi  là Hoa Kỳ  có đang dùng uy lực mình  giúp đở hay làm tổn thương Trung Quốc không ?

         Dân gian Hoa Kỳ đôi khi xem Trung Quốc là bí ẩn, khó hiểu.  Nhưng  theo cách phân chia quyền uy ở hệ thống chánh trị Hoa Kỳ và chuyễn đổi  quyền hạn thường xuyên  giữa hai chánh đảng Dân chủ- Democrats  Cộng Hòa – Republicans ở xứ Cờ Hoa,  thật khó lòng cho  dân Tàu  qui định  nổi quyết tâm của Mỹ.  Tuy nhiên, qua các thập niên mới đây,  chiến lược dài hạn Hoa Kỳ  tuồng như  trổi dậy từ một lọat hành động Hoa Kỳ đối với Trung Quốc .

         Đa số dân Hoa Kỳ  có lẽ sẽ ngạc nhiên khi biết rỏ mức độ  dân Tàu tin rằng Hoa Kỳ là  một  quyền uy xét lại – revisionist power , cố tìm  hạn chế, giảm bớt  ảnh hưởng chánh trị của Trung Quốc và tai hại  cho quyền lợi Tàu.  Cái nhìn này  hình dung ra , không chỉ là  vì Bắc Bình hiểu biết Hoa Thịnh Đốn- Washington ,  mà cũng là nhỡn quan Tàu rộng lớn hơn về hệ thống quốc tế  và địa vị Tàu, trong đó nhỡn quan qui định phần lớn do cảm giác sắc bén của Trung Quốc về tính cách dễ tổn thương chính  xứ sở mình.

 

                            Bốn vòng tròn

 

          Bắc Bình xem thế giới  như thể  một vùng đất đai hiểm họa, bắt đầu  bằng các đường phố ngay ngòai cửa sổ  các nhà làm chánh sách , đến các biên giới đất liền và  các lằn biển cả  xa Trung Quốc hàng ngàn dặm Anh, đến các hầm mỏ  và các vùng dầu lữa  các đại lục xa xăm.  Những mối đe dọa này có thể mô tả  như thể 4 vòng tròn đồng tâm.  Ở vòng tròn thứ nhất,  nghĩa là các lảnh thổ Trung Quốc đang cai trị hay khẳng định,  Bắc Bình tin tưởng là ổn định chánh trị  và tòan vẹn lảnh thổ Trung Quốc đang bị các lực lượng và các diễn viên ngọai quốc đe dọa.  So với các quốc gia mênh mông khác, Trung Quốc phải đối phó  với một số  chưa từng có diễn viên bên ngòai, cố tâm ảnh hưởng đến  tiến trào xứ sở, thường theo  những phương cách chế độ Tàu xem là  tại hại cho cuộc sống còn nước nhà. Các nhà đầu tư ngọai quốc, cố vấn phát triễn, du khách, và sinh viên kéo đàn kéo lũ đến Trung Quốc, mọi người với ý kiến riêng tư về cách nào Trung Quốc phải đổi thay. Các tổ chức và chánh phủ ngoại quốc  cung cấp hổ trợ tài chánh và kỷ thuật cho các nhóm Tàu đề xướng xã hội dân sự. Các đối lập Tây Tạng và Tân Cương-  Xinjiang nhận lảnh hổ trợ tinh thần và ngọai giao, đôi khi luôn cả cứu trợ vật chất từ các tập thể  thiểu số kiều ngọai này  cũng như  các chánh phủ ngọai quốc đầy cảm tình vói các tộc dân  thiểu số  ( Tàu ) này.  Dọc  theo bờ biển, các lân bang  không chấp nhận  những lảnh thổ biển  Bắc Bình tuyên bố. Đài Loan có chánh phủ riêng cai trị, được 23 quốc gia trên thế giới  công nhận ngọai giao  và Hoa Kỳ bảo đảm an ninh.

      Ở các biên cương Tàu, các nhà làm chánh sách Trung Quốc đối diện những lo ngại một vòng tròn an ninh thứ hai, liên quan đến  những dính líu với  14 quốc gia kế cận. Không một quốc gia nào, ngọai trừ Nga, là có nhiều lân bang như thế.  Gồm  5 quốc gia Trung Quốc phải  đánh nhau  trong 70 năm vừa qua ( Ấn Độ, Nhật, Nga, Hàn Quốc – Nam Hàn và Việt Nam ) và một số quốc gia  có các chế độ bất ổn định cai trị.  Không một lân bang nào nhận thức  những quyền lợi  quốc gia lõi cốt của mình  là phù hợp với quyền lợi Trung Quốc cả.

      Trung Quốc cũng rất ít khi  hứng thú  điều đình  trên căn bản  thuần túy  tay đôi với bất cứ lân bang nào.  Vòng tròn thứ ba  lo ngại an ninh Trung Quốc  là các chánh trị   thuộc 6  vùng địa lý khác nhau  vây quanh Trung Quốc :  Đông Bắc Á,  Úc Châu , Đông Nam Á lục địa , Đông Nam Á thuộc biển,  Nam Á  và Trung Á ( Đông ). Mỗi vùng đều có  những vấn đề ngọai giao  và an ninh  vùng phức tạp .

        Cuối cùng vòng thứ tư  là thế giới xa hẳn  tính cách lân  bang trực tiếp.  Trung Quốc chỉ mới  thật sự dấn thân  vào vòng tròn xa xôi này từ cuối thập niên 1990 và cho đến nay  chỉ có mục đích giới hạn: để bảo đảm các nguồn hàng hóa tỉ như dầu lữa; xen vào các thị trường và đầu tư;  tìm kiếm hổ trợ ngọai giao để cách ly Đài Loan    Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng; và tuyễn mộ các đồng minh cho các vị thế  Trung Quốc, theo tiêu chuẩn  quốc tế  và chế độ hợp pháp.

 

                      Hoa Kỳ bí ẩn , khó dò

 

      Tại mỗi một vòng trong số 4 vòng này, đều có mặt Hoa Kỳ.  Đây là một diễn viên ngọai quốc  xâm nhập lớn nhất vào nội trị Trung Quốc, nhà bảo đảm  cho nguyên trạng- statuo quo  Đài Loan, hiện diện hải quân lớn nhất ở các biển  Đông Hải  Trung Quốc và Nam Hải  Trung Quốc( Biển Đông Việt Nam ), nguyên là đồng minh  chánh thức hay không chánh thức  của nhiều lân bang Trung Quốc, nhà đóng khung  à bảo vệ  cơ bản  cho các chế độ  hợp pháp quốc tế hiện hửu.  Sự có mặt khắp nơi này có nghĩa là hiểu biết Trung Quốc  về các  nguyên cớ Mỹ, qui định ra cách nào Tàu sẽ  thu xếp mọi vấn đề An Ninh Trung Quốc.

        Khởi đầu bằng  cuộc viếng thăm của tổng thống Richard Nixon năm 1972,  một liên tiếp lảnh tụ Mỹ đã bảo đảm với Trung Quốc về  thiện chí Mỹ.  Mọi chánh quyền tổng thống Hoa Kỳ  thảy đều nói rằng  thịnh vượng và  ổn định của Trung Quốc là đúng với quyền lợi của Hoa Kỳ. Và thực tiễn, Hoa kỳ đã làm hơn hết  mọi cường quốc  khác, góp phần vào cận đại hóa Trung Quốc. Hoa Kỳ đã kéo Trung Quốc vào kinh tế tòan cầu, đưa Trung Quốc vào  thị trường , tư bản và kỷ thuật;  huấn luyện các chuyên  viên Trung Quốc về khoa học, kỷ thuật và luật  quốc tế;  ngăn ngừa quân sự hóa  hoàn tòan Nhật Bổn ; duy trì hòa bình ở bán đảo Triều tiên ( Đại Hàn );  và giúp đở tránh chiến tranh ở  Đài Loan.

       Nhưng các nhà làm chánh sách Tàu lại bị ấn tượng nhiều hơn với các chánh sách và hành động họ nhận thức là  ít thiện cảm hơn.  Quân sự Mỹ dàn trải khắp ngoại biên Trung Quốc và Hoa Kỳ duy trì một mạng lưới liên hệ phòng thủ rộng lớn với các lân bang Tàu. Hoa Thịnh Đốn tiếp tục  làm thất vọng các cố gắng Bắc Bình muốn  kiểm sóat Đài Loan.  Hoa Kỳ thường xuyên làm áp lực Trung Quốc trên  các chánh sách kinh tế Tàu và duy trì  một số đông chương trình chánh phủ và tư nhân , tìm cách ảnh hưởng đến  xã hội dân sự và chánh trị Tàu.

       Bắc Bình xem một lọat hành động Hoa Kỳ tuồng như  tương phản nhau, trên ba viễn cảnh tăng cường lẫn nhau.  Trước tiên, các nhà  phân tích Tàu nhìn quốc gia  mình như là  thừa kế một truyền thống nông nghiệp, chiến lược phưong Đông có nghĩa là  truyền thống hòa bình, thiên về phòng vệ, không bành trướng và đạo đức. Trái lại họ nhìn văn hóa chiến lược Tây Phương, đặc biệt của Hoa Kỳ là  quân phiệt, thiên về tấn công, bành trướng và ích kỷ.

      Thứ đến  là dù rằng Trung Quốc nay đã ôm chồm  mảnh liệt tư bản quốc doanh, cái nhìn Tàu về Hoa Kỳ  vẫn chứa đầy  tư tưởng chánh trị Mác xít, khẳng định  là các cường quốc tư bản  chủ nghĩa  luôn luôn tìm cách  khai thác phần thế giới còn lại. Trung Quốc chờ đợi là các cường quốc Tây Phương sẽ chống cự lại Tàu cạnh tranh về tài nguyên và các thị trường  có giá trị cộng thêm cao hơn.  Và dù cho Trung Quốc đang có thặng dư thương mãi với Hoa Kỳ  và nắm giữ một số lớn Hoa Kỳ mắc nợ, các nhà phân tích chánh trị Tàu lẫn đạo tin rằng Hoa Kỳ đã  chiếm phần tốt đẹp của  bàn thảo nhờ sử dụng nhân công Tàu rẽ rề và tín dụng, hầu có đời sống vượt quá khả năng mình.

     Thứ ba, các lý thuyết  Mỹ  về quan hệ quốc tế đã trở nên rất phổ thông thích thú cho các nhà phân tích Tàu trẻ tuổi hơn, một số khá nhiều đã  đạt những bằng cấp cao ở Hoa Kỳ.  Thực thể  có ảnh hưởng  lớn nhất về lý thuyết quan hệ quốc tế ở Trung Quốc  tên gọi là là thực tế tấn công – offensive realism , cho rằng một quốc gia sẽ cố tâm kiểm sóat môi trường an ninh mình, theo đúng hòan tòan mọi khả  năng mình cho phép. Theo lý thuyết này, Hoa Kỳ không thể tự mãn về sự hiện diện mộtTrung Quốc uy vũ và lẽ dĩ nhiên  phải tìm cách  cho chế độ đang cai trị ở đó  yếu đi và  thân Mỹ hơn.  Các nhà phân tích Tàu  xem chứng cớ ý niệm này khi Hoa thịnh Đốn kêu gọi dân chủ và hổ trợ  những gì Trung Quốc  xem đó là những phong trào chia tách, phân ly- separatist movements ở Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương.

       

Ngoại trưởng Mỹ-Ngoại trưởng Việt Nam

      Dù họ xem Hoa Kỳ cơ bản  xuyên qua các thấu kính văn hóa, mác xít hay thực tế  đi nữa,  đa số các nhà chiến lược Tàu  đều giả thiết là  một quốc gia uy vũ như Hoa Kỳ sẽ sử dụng sức mạnh của mình  để bảo tồn  và tăng cường các ưu thế mình và sẽ xem  những cố gắng  các quốc gia  khác để bảo vệ quyền lợi xứ sở  như là những mối đe dọa cho an ninh Mỹ.  Giả thiết này đưa tới một kết luận bi quan: khi Trung Quốc vùng dậy, Hoa Kỳ sẽ kháng cự. Hoa Kỳ sử dụng những từ ngữ thoa dịu, đúc khuôn hành động Hoa Kỳ như thể  là một tìm kiếm hòa bình, nhân quyền và san bằng sân chơi, đôi khi còn cung cấp  cho Trung Quốc  viện trợ chân chính nữa. Nhưng Hoa Kỳ có hai mặt : Hoa Kỳ có ý định  vẫn là một bá quyền tòan cầu  và ngăn cản Trung Quốc  mạnh lên  đủ sức  thách đố.  Trong một phỏng vấn năm 2011 ở  Liêu Vương – Liaowang , một tuần báo quốc doanh Tàu, Ni Phong – Nifeng, phó giám đốc ngành khoa học  xã hội  hàn lâm  Tàu  của viện  Nghiên cứu Mỹ,  tóm tắt quan điểm như sau :  Một mặt, Hoa Kỳ nhận thức  là cần Trung Quốc giúp đở  nhiều vấn đề  tòan cầu và miền vùng . Mặt khác,  Hoa Kỳ lo ngại đối đầu một Trung Quốc  mạnh mẽ hơn , sẽ tìm nhiều phương cách  làm  Trung Quốc chậm phát triễn đi    tái biến cải Trung quốc theo đúng những giá trị Hoa Kỳ.

              Một nhóm nhỏ  các nhà phân tích  Tàu phần lớn trẻ hơn, đã nghiên cứu cặn kẻ Hoa Kỳ biện cứ là quyền lợi Tàu và Mỹ không xung đột nhau.  Theo nhỡn quan nhóm nhỏ này, hai quốc gia đều đủ xa cách nhau, cho nên các quyền lợi an ninh cốt lõi  của hai nước không va chạm nhau. Nhưng  những người nắm giữ cái nhìn này rất ít so với  các nhà chiến lược phía bên kia phổ kế, phần lớn là nhân viên các cơ quan quân sự và tình báo,  xem chánh sách Hoa Kỳ  rất u tối  và có những ý kiến cách nào Trung Quốc phải đương đầu, giải đáp tình huống này.  Họ tin rằng Trung Quốc phải đứng dậy  chống lại Hoa Kỳ bằng quân sự    họ sẽ thắng cuộc chiến này, nếu xảy ra, bằng cách bỏ xa Hoa Kỳ trên kỷ thuật quân sự  và lợi dụng ưu điểm về tinh thần cao hơn của quân đội Trung Quốc.  Những cái nhìn này thường bị che dấu đi, hầu tránh  gây lo sợ  cho cả các đối thủ lẫn bạn bè Trung Quốc      

            

             Ai là kẻ xét lại đây ?

 

     Nhìn chăm chú sâu hơn về chiến lược Trung Quốc của lôgic Hoa Kỳ, các nhà phân tích Tàu cũng như bất cứ nhà phân tích nào trên thế giới  nhắm vào các khả năng và các ý định.  Dù cho các ý định Hoa Kỳ đều phải giải thích, nhưng khả năng quân sự, kinh tế, hình thức tư tưởng và ngọai giao  rất dễ dàng khám phá, và chiếu theo cái nhìn Tàu, chúng  đầy tiềm năng tàn phá.

    Lực lượng quân sự Hoa Kỳ dàn trải tòan cầu và tiên tiến kỷ thuật, với hỏa lực  đậm đặc khối lượng  quanh khắp bờ rìa Tàu.  Chỉ Huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ - U.S. Pacific Command ( PACOM) là chỉ huy lớn nhất trong số  6 chỉ huy chiến đấu vùng ,  đúng theo các từ  phạm vi họat động vùng và nhân lực lúc không có chiến tranh.  Tích sản PACOM gồm có  325 000 nhân viên quân sự và nhân sự,  song song với chừng 180 tàu chiến và 1900 máy bay.  Về phía Tây,  PACOM nhường chỗ cho  Chỉ Huy Trung Ương Hoa Kỳ - U . S. Central Command ( CENTCOM)  có trách nhiệm cho một vùng  trải dài từ Trung Á đến Ai Cập. Trước  11 tháng chín năm 2011, CENTCOM không có lực lượng nào  đóng trực tiếp sát biên giới Trung Quốc, ngọai trừ các phái đòan huấn luyện và cung cấp ở Hồi Quốc – Pakistan.  Nhưng khi bắt đầu «  chiến tranh chống khủng bố- war on terror », CENTCOM  đóng hàng chục ngàn quân lính ở A Phú Hãn – Afghanistan  và được  vào một căn cứ  không quân ở Kyrgyzstan.

    Khả năng hành quân  của các lực lượng Hoa Kỳ  ở Á Châu Thái Bình Dương được phóng đại thêm nhờ các hiệp ước song phương phòng vệ với Úc Châu, Nhật Bổn,Tân Tây Lan – New Zealand, Phi Luật Tân, Hàn Quốc ( Nam Hàn ) và những dàn xếp hợp tác với các quốc gia khác.  Trên chóp  mọi điểm này là Hoa KỲ hiện có  chừng 5200  đầu đạn vỏ khì hạt nhân- nuclear warhead  dàn trải trong bộ ba  không quân, hải quân và lục quân. Gọp chung lại, vị trí phòng thủ này của Hoa Kỳ  tạo ra cái mà Giang Văn Rông( ? ) – Qian Wenrong  của Trung tâm Khảo cứu về  Nghiên cứu các vấn đề quốc tế  Cơ quan Tin tức Tân Hoa – Xinhua News Agency gọi là  «  một vòng tròn bao vây  chiến lược».

     Các nhà phân tích an ninh Tàu  cũng lưu ý đến khả năng rộng lớn  của Hoa Kỳ  có thể làm tai hại cho quyền lợi kinh tế Tàu.  Hiện Hoa Kỳ vẫn còn là một thị trường  một mình quan trọng nhất cho Trung Quốc , trừ phi  ai đó  xem Hiệp Hội Âu Châu  là một thực thể duy nhất.  Và Hoa Kỳ còn là  những nguồn lớn nhất về đầu tư ngọai quốc trực tiếp  và kỷ thuật tiên tiến.  Đôi khi  Hoa thịnh Đốn cũng thích thú sử dụng ý kiến cưỡng bức quyền hạn kinh tế của mình nữa.  Sau cuộc đánh dẹp  Quảng trường Thiên An Môn năm  1989, Hoa Kỳ  áp đặt vài trừng phạt ngọai giao và kinh tế giới hạn đối với Trung Quốc, gồm một  cấm vận, hiện vẫn còn hiệu lực, về bán võ khí tiên tiến. Nhiều năm sau đó, Quốc Hội Hoa Kỳ bàn cải  là có nên trừng phạt thêm  Trung Quốc về vi phạm nhân quyền bằng cách bải bỏ tỉ xuất quan thuế  thấp tối huệ quốc -  most- favored-nation cho hàng nhập khẩu từ Trung Quốc , dù rằng các người đề xướng dự án này chưa bao giờ có được  đa số cả. Gần đây hơn, các nhà lập pháp Hoa Kỳ  đã đề nghị trừng phạt  Trung Quốc đã giả tạo  giữ  thấp giá trị đồng yuan (  đồng tiền  Trung Quốc )  để các nhà xuất khẩu Tàu có lợi lộc và  ngay chính Mitt Romney, người đảng Cộng hòa ra tranh cử tổng thống Mỹ , đã hứa hẹn là nếu đắc cử, ông sẽ  gán Trung Quốc là  kẻ thao tác tiền tệ ngày đầu tiên ông làm tổng thống.

       Dù rằng các diều hâu thương mãi ở Hoa Thịnh Đốn  ít khi thắng cuộc, những bừng cháy này cũng nhắc nhở Bắc Bình là Trung Quốc rất dễ tổn thương, nếu Hoa Kỳ quyết định trừng phạt Trung Quốc trên phương diện kinh tế.  Các nhà chiến lược Tàu tin rằng Hoa Kỳ và các đồng minh  sẽ cấm không cho chở dầu lữa và quặng mỏ đến Trung Quốc nữa trong  một thời kỳ khủng hỏang quân sự hay  kinh tế  và hải quân Hoa Kỳ  sẽ  chận không cho Trung Quốc vào  các đường lằn  biển cả-  sea lanes khẩn thiết chiến lược. Sự có mặt khắp nơi của đồng đô la Mỹ trên thương mãi và tài chánh quốc tế cũng  cống hiến cho Hoa Kỳ khả năng  làm tai hại quyền lợi Tàu , hoặc có chủ tâm hoặc là thành quả  các cố gắng chánh phủ Hoa Kỳ   để giải đáp các vấn đề thuế khóa bằng cách in thêm đô la và tăng vay mượn, những hành động  hạ thấp giá trị  xuất khẩu Tàu đô la ngự trị  và dự trữ ngọai tệ Tàu.

      Các nhà phân tích Tàu cũng tin tưởng là Hoa Kỳ  có những vỏ khí ý thức hệ uy vũ  và sẳn sàng sử dụng chúng. Sau Thế Chiến thứ Hai, Hoa Kỳ đã lợi dụng vị trí là cường quốc  chủ trì  để tôn thờ các nguyên tắc Mỹ ở Tuyên Ngôn Tính chất Phổ biến của Nhân Quyền cũng như các khí cụ nhân quyền quốc tế khác  thiết lập  điều Trung Quốc xem là các nền dân chủ kiểu Tây Phương ở Nhật  và trong tương lai ở Hàn Quốc, Đài Loan và các nước khác. Các chức quyền Tàu  khẳng định là Hoa Kỳ dùng các ý kiến dânchủ và nhân quyền  để  bất hợp pháp hóa và làm bất ổn định   các chế độ chấp nhận những giá trị thay thế  khác, tỉ như chủ nghĩa xã hội – socialism   hay  chủ nghĩa  phát triễn độc đóan –developmental  authoritarianism  kiểu Á Châu .  Theo lời  của  Lý Cung( ?)- Li Qun  thành viên của Ủy Ban Đảng Tỉnh Sơn Đông, một ngôi sao đang bừng sáng  ở Đảng Cọng Sản Trung Quốc, chủ tâm thật sự của dân Mỹ  không phải là để bảo vệ cái gọi là nhân quyền ,    dùng làm  duyên cớ ảnh hưởng  và giới hạn tăng trưởng kinh tế lành mạnh của Trung Quốc  và ngăn ngừa giàu có và uy quyền Tàu đe dọa bá quyền  thế giới của Hoa Kỳ.

          Trong khóe mắt nhiều nhà  phân tích Tàu, kể từ khi  Chiến Tranh Lạnh - Cold War chấm dứt, Hoa Kỳ tự mình tiết lộ  là một cường quốc xét lại, cố gắng hình dung lại môi trường tòan cầu  xa hơn nữa,  có lợi cho Hoa Kỳ. Họ thấy rỏ chứng cớ  của thực tế này khắp nơi: nới rộng NATO, can thiệp Hoa Kỳ ở Panama, Haiti, Bosnia, và Kosovo, Chiến tranh Vịnh – Gulf War , chiến tranh A Phú Hãn,  và xâm lăng Iraq . Ở vương quốc kinh tế, Hoa Kỳ cố gắng bổ sung các ưu điểm của mình bằng cách  thúc đẩy  thương mãi tự do, hạ thấp  gía trị đồng đô la Mỹ trong lúc ép buộc  các quốc gia khác sử dụng đô la làm dự trữ ngọai tệ, và cố tâm  làm các nước chậm tiến- đang mở mang  gánh chịu  chia sẽ không phải chăng  phí tổn  thoa dịu  thay đổi khí hậu tòan cầu.  Và có lẽ  gây lo âu nhất cho Tàu  là Hoa Kỳ  đã trình bày những họa kiểu  hành động xâm lăng,  khi đề xướng  những cái gọi là cách mạng màu sắc – color revolution ở Georgia, Ukraine, và Kyrgystan.   Như Liêu Giang Phì- Liu Jianfei , giám đốc ban  Ngọai Giao Trường Trung Ương Đảng  của Đảng Cọng Sản Tàu, viết năm 2005, Hoa Kỳ đã luôn luôn chống đối «  các cuộc cách mạng đỏ cọng sản - communist red revolution »  và ghét «  các cuộc cách mạng xanh – green revolution » ở Iran và các quốc gia Hồi Giáo khác. Điều Hoa Kỳ lo tâm  là không phải «  cách mạng- revolution »  mà là «  màu sắc – color ».  Hoa Kỳ hổ trợ những cuộc cách mạng «  hồng – rose » , «  cam – orange »,  hay “tuy líp – tulip » ,vì chúng phục vụ chiến lược đề xướng dân chủ của Hoa Kỳ.

 

                         Khai thác Đài Loan

 

            Dù các nhà học giả và  bình luận Hoa Kỳ điển hình nhìn những liên hệ  Mỹ - Tàu vào thời kỳ hậu chiến  như thể là một  tan tuyết băng dài và chậm rải, ở tầm nhìn Bắc Bình  Hoa Kỳ luôn luôn đối đải Trung Quốc rất là  nghiêm khắc. Từ 1950 đến 1972,  Hoa Kỳ cố gắng  kiềm chế và  cô lập Trung Quốc.  Trong số những hành động khác, Hoa Kỳ đã thuyết phục đa số đồng minh mình từ chối  không công nhận ngọai giao  lục địa Tàu, tổ chức  cấm vận thương mãi chống Trung Quốc, xây dựng  quân sự Nhật, can thiệp Chiến Tranh Triều Tiên ( Cao Ly, Đại Hàn ). Nâng đở  một chế độ canh tranh ( với Trung Quốc ) ở Đài Loan, hổ trợ du kích Tây Tạng chống Tàu kiểm sóat, và ngay cả đe dọa  sử dụng vỏ khí hạt nhân luôn ở cả hai: Chiến Tranh  Triều Tiên lẫn khủng hỏang  Eo Biển Đài Loan năm 1958. Các nhà phân tích Tàu thừa nhận  là chánh sách của Hoa Kỳ về Trung Quốc  đã thay đổi sau năm 1972 ( Việt Nam Cộng Hòa « mất nước »  về cuộc đi đêm Kissinger – Nixon  và Mao Trạch Đông – Chu Ân Lai này ). Nhưng họ  xác nhận   thay đổi thuần túy  là thành quả một cố gắng chống lại Hiệp Hội Nga Sô viết  và sau đó là để chiếm lợi kinh tế  làm doanh nghiệp ở Trung Quốc.Ngay cả lúc đó,  Hoa Kỳ tiếp tục   rào cản chống Trung Quốc vươn dậy, bằng cách duy trì Đài Loan như thể một xao lãng chiến lược, giúp tăng trưởng quân sự Nhật, cận đại hóa các lực lượng hải quân và làm áp lực với Trung Quốc về nhân quyền.  

            Dân Tàu cũng đã học  nhiều bài về chánh sách Trung Quốc của Hoa Kỳ  từ nhiều lọat đàm phán với Hoa Thịnh Đốn.  Suốt thời bàn thảo cấp bậc đại sứ  các thập niên 1950 và 1960, đàm phán  về kiểm sóat vỏ khí  các thập niên 1980 và 1990, thảo luận về Trung Quốc gia nhập  Tổ chức Thương mãi Quốc tế -World Trade Organisation vào thập niên 1990 và đàm phán về  thay đổi khí hậu  thập niên kế tiếp, Tàu  vẫn hằng  nhìn thấy  là dân Mỹ  đòi hỏi như cũ và không tí nào nhượng bộ.  Và dứt khóat nhất cho dân Tàu hiểu rỏ về chánh sách Hoa kỳ  là ba vòng đàm phán về Đài Loan các năm 1971-72, 1978-79 và 1982 tạo ra một « khung cảnh thông cáo- communiqué framework» qui định chánh sách  về Đài Loan của Hoa Kỳ cho đến  hôm nay. Khi  hửu nghị - xích lại gần nhau  Mỹ -Tàu  bắt đầu, các nhà làm chánh sách Tàu  giả thiết là Hoa Thịnh Đốn sẽ  thôi ủng hộ Đài Bắc  để đổi  chác những lợi lộc  quan hệ bình thường  cùng Bắc Bình giữa  quốc gia này đối với quốc gia kia. Ở mỗi giai đọan đàm phán, tuồng như Hoa Kỳ mong muốn như thế. Tuy nhiên vào những thập niên sau,  theo cái nhìn  Bắc Bình,  Hoa Kỳ vẫn là chướng ngai vật lớn nhất cho việc thống nhất  Đài Loan và lục địa.

      Khi Nixon đến Trung Quốc năm 1972, ông ta nói với dân Tàu là ông muốn hy sinh Đài Loan vì lẽ Đài loan không còn là quan trọng chiến lược  cho Hoa Kỳ nữa, và  ông không thể làm như vậy mãi cho đến nhiệm kỳ thứ hai. Trên căn bản này, Trung Quốc đồng ý  về Thông Cáo Thượng Hải năm 1972, dù thông cáo này chứa đựng  một tuyên bố  đơn phương của Hoa Kỳ tái xác nhận quyền lợi Hoa Kỳ là giải quyết hòa bình vấn đề Đài Loan, một mã số ngoại giao cho  cam kết  ngăn cản  bất cứ cố gắng nào lục địa chiếm Đài Loan bằng vỏ lực. Lúc sự cố diễn ra,  Nixon từ chức  trước khi ông đủ khả năng  bình thường hóa quan hệ với Bắc Bình; và Gerald Ford  kế nhiệm ông, quá yếu kém trên phương diện chánh trị  để hòan thành hứa hẹn Nixon.

     Khi tống thống kế tiếp Jimmy Carter  muốn bình thường hóa quan hệ  với Trung Quốc, Tàu nhấn mạnh là Hoa Kỳ phải  cắt đứt hẳn với Đài Loan.  Năm 1979, Hoa Kỳ chấm dứt  hiệp ước phòng thủ với Đài Loan , nhưng  một lần nữa    đưa ra một tuyên bố  đơn phương  tái  cam kết về «  một giải quyết hòa bình vấn đề Đài Loan.» Rồi Quốc hội Hoa Kỳ  làm ngạc nhiển cả Tàu lẫn  chánh quyền Mỹ chấp thuận « Luật  Liên hệ Đài Loan – Taiwan Relations Act » , đòi hỏi Hoa Kỳ « phải duy trì khả năng của mình … chống cự lại mọi  hành động dùng vỏ lực  hay mọi hình thức ép buộc  có cơ  gây nguy hiểm cho an ninh …  của dân chúng ở Đài Loan. »  Một lần nữa  ý định cản trở thật là minh bạch.

    Năm 1982,  khi tổng thống Ronald Reagan   tìm kiếm quan hệ  chặc chẻ hơn  với Bắc Bình, hầu tăng thêm áp lực  với Mạc Tư Khoa – Moscow , Trung Quốc thuyết phục Hoa Kỳ ký kết một thông cáo  khác, cam kết là Hoa Kỳ sẽ dần dần giảm bớt  bán vỏ khí  cho Đài Loan. Nhưng một khi  đặt xong thỏa hiệp, Mỹ  đặt năm  1979 làm cột mốc, khi mức bán vỏ khí cao nhất, tính tóan gia giảm hằng năm  lại ở sác xuất biên tế nhỏ bé, điều chỉnh theo lạm phát, cho nên thực sự là chúng đã tăng thêm; tuyên bố là những hệ thống  tiên tiến hơn Hoa Kỳ bán cho Đài Loan  chỉ tương đương phẩm giá  các hệ thống cũ  và cho phép  các hảng thương mãi  cộng tác với  công nghệ vỏ khí Đài Loan  dưới  đề mục  chuyễn giao  kỷ thuật hơn là bán vỏ khí. Lúc đó tổng thống George W. Bush chấp thuận  một gói hàng  vỏ khí tiên tiến  cho Đài Loan vào tháng tư năm  2001,  thông cáo  1982 thành một lá thư chết ngắt. Trong thời gian này, khi  Hoa Kỳ kéo dài   dính líu với Đài Loan, một chuyễn tiếp dân chủ  xảy ra ở đó, làm cho thống nhất càng xa hơn tầm tay Bắc Bình .

       Xem xét lại lịch sử, các nhà chiến lược Tàu tự hỏi là tại sao Hoa Kỳ lại chiếu cố đến Đài Loan như vậy ?  Dù dân Mỹ thường biện cứ là họ đơn giản bảo vệ một đồng minh dân chủ trung thành, đa số dân Tàu nhìn thấy những  nguyên cớ  chiến lược ở cội rễ  cư xử Hoa thịnh Đốn.  Họ tin tưởng rằng cứ để  tình huống Đài Loan như thế kéo dài , sẽ giúp Hoa Kỳ   dìm Trung Quốc xuống thấp. Theo  từ ngữ của  Lỗ( ? ) Viên – Luo Yan , một tướng hồi hưu và là  phó tổng thư ký  Khoa học Quân sự  Xã hội Tàu , Hoa Kỳ từ lâu đã sử dụng  Đài Loan «  để làm con cờ  chặn đường Trung Quốc vươn lên . » 

 

                  Những hiểm nguy của  thuyết đa nguyên - pluralism

 

        Luật Liên hệ Đài Loan đánh dấu khởi sự  một khuynh hướng Quốc hội Hoa Kỳ ngã về  võ đóan hơn  trên chánh sách Mỹ - Tàu  và điểm này  tiếp tục làm phức tạp hơn  giao hảo  giữa Hoa thịnh Đốn và Bắc Bình. Mười năm sau, biến cố  Thiên An Môn năm 1989, chấm dứt Chiến tranh Lạnh tiếp theo, thay đổi những điều khỏan  tranh cải tại Hoa Kỳ. Trung Quốc  đã được nhận thức là một chế độ  tự do hơn; sau Thiên An Môn Trung Quốc trở thành một chế độ độc tài  lại giống –atavistic dictatorship.  Và sau  Nga Sô Viết sụp đổ  làm hỏng  thôi thúc  chiến lược cộng tác với Bắc Bình.  Hơn  nữa, các mối liên kết kinh tế Mỹ - Tàu  bắt đầu tạo ra những  động chạm về các vấn đề  tỉ như bán tháo đổ các hàng hóa chế tạo rẽ tiền ở Trung Quốc ở thị trường Hoa Kỳ    cướp bóc  tài sản trí tuệ Hoa Kỳ. Sau nhiều chục năm nhất trí ở Hoa Kỳ, Trung Quốc mau lẹ trở thành  một trong những vấn đề chia rẽ nhất ở  chánh sách ngọai giao Mỹ , một phần do các cố gắng biện hộ  sôi nổi các nhóm quyền lợi  mong muốn  chắc chắn là Trung Quốc vẫn còn ở lịch trình Quốc Hội.

    Thật vậy, kể từ Thiên An Môn Trung Quốc đã hút dẫn chú ý nhiều nhóm quyền lợi Mỹ hơn là bất cứ quốc gia nào khác. Hệ thống chánh trị Trung Quốc gây nên chống đối từ các tổ chức nhân quyền; các chánh sách  kiểm sóat dân số   làm các phong trào chống phá thai nổi giận;  đàn áp các nhà thờ  xúc phạm đến các  giáo phái Tin Lành Mỹ;  xuất khẩu rẽ rề của Tàu  khởi động yêu cầu  bảo vệ của  các tổ chức nghiệp đòan; trông cậy vào than đá và đập thủy điện làm năng lượng làm phật lòng  các nhóm môi sinh;  và cướp bóc và làm giả  tràn lan khiến các  công nghệ làm phim ảnh, phần mềm – software tức giận . Các than phiền đặc thù này tăng thêm sức mạnh cho lo sợ rộng lớn hơn về « Trung Quốc Đe dọa – China Threat »  thấm ướt bàn luận  chánh trị Mỹ - một lo sợ,  ở tầm mắt nhìn của dân Tàu, không những phủ nhận tính cách hợp pháp của các hòai bảo Tàu, nhưng chính đó lại là một lọai đe dọa cho Trung Quốc . 

    Lẽ dĩ nhiên ở  Quốc Hội Hoa Kỳ, các tổ chức nghiên cứu chánh sách quốc phòng , truyền thông báo chí và giới hàn lâm cũng có  nhiều người ủng hộ các vị thế có lợi cho Trung Quốc, trên căn bản cho là cọng tác  quan trọng cho nông dân Mỹ,  các nhà xuất khẩu, các ngân hàng và Wall Street, hay những vấn đề tỉ như Bắc Hàn và thay đổi khí hậu còn quan trọng hơn là các  cải lộn  về quyền hạn hay tôn giáo. Những đề xướng trong dài hạn có thể  uy vũ hơn  những chỉ trích Trung Quốc  nhưng họ lại  có khuynh hướng họat động bên sau sân khấu.  Đối với các nhà phân tích Tàu  cố công   tìm hiểu nghĩa lý ở những quan điểm lộn xộn chối tai này của cộng đồng  chánh sách Mỹ, những tiếng  ầm ỉ  nhất dễ nghe được nhất  và những tín hiệu rất gây hoang mang, rất gây sợ hải.

   

                   Đe Dọa Bọc Đường   

 

        Trong cố gắng  làm sáng tỏ các ý định Hoa Kỳ, các nhà phân tích Tàu, cũng đã nhìn xem  các tuyên bố chánh sách  các nhân vật cao cấp nền hành chánh Mỹ.  Vì họ đến từ một hệ thống chánh trị nền hành chánh ngự trị, các nhà phân tích  Tàu xem những tuyên bố này là những  hướng dẫn đáng tin cậy cho chánh sách Hoa Kỳ.  Họ tìm thấy là các tuyên bố thường làm ra hai điều: chúng  tìm cách  làm yên lòng  Bắc Bình  là những ý định của Hoa Thịnh Đốn ôn hòa và cùng lúc  chúng cũng tìm cách  làm yên lòng công chúng Mỹ là Hoa Kỳ sẽ không bao giờ cho phép  bừng dậy của Trung Quốc đe dọa quyền lợi Hoa Kỳ.  Phối  hợp các chủ đề  sản xuất ra điều mà các nhà phân tích Tàu nhận thức là  các đe dọa bọc đường- sugarcoated threats.

   Tỉ dụ năm 2005,  Robert Zoellich , phó bộ trưởng ngọai giao Hoa Kỳ, phát ngôn một tuyên bố  chánh sách chủ yếu với Trung Quốc nhân danh chánh quyền Geoge W. Bush . Ông bảo đảm với cử tọa Mỹ  là Hoa Kỳ sẽ «  cố tâm  khuyên can bất cứ một cạnh tranh quân sự nào phát triễn những khả năng khác hay chống đối nhau  có thể  bành trướng vùng-miền hay hành động thù địch chống Hoa Kỳ  hay các quốc gia thân thiện Hoa Kỳ. » Nhưng ông cũng giải thích  rằng Trung Quốc vươn lên không phải là một đe dọa vì lẽ «  Trung Quốc  không tìm cách  làm lan rộng các ý thức hệ  cấp tiến chống đối Mỹ » «  không xem mình là một chiến đấu  mất - còn với chủ nghĩa tư bản «  và «  không tin tưởng là tương lai mình  tùy thuộc vào lật đổ trật tự căn bản  của hệ thống quốc tế. » Ông nói: trên  căn bản này, hai bên có thể có «  liên hệ hợp tác ».

   Thế nhưng hợp tác lại tùy thuộc vài điều kiện. Trung Quốc phải  làm nguội «  chảo dầu lo ngại – cauldron of anxiety » ở Hoa Kỳ về vụ Trung Quốc vươn lên.  Trung Quốc phải « giải thích  chi phi quốc phòng ( tăng mạnh ),  ý định, chủ nghĩa, và các luyện tập quân sự ; giảm bớt  thăng dư thương mãi với Hoa Kỳ, và cọng tác với Hoa Kỳ  về Iran

và Bắc Hàn. Trên hết, Zoellick khuyến cáo : Trung Quốc phải  từ bỏ « chánh trị đóng cửa , chánh trị đóng kín – closed politics. » Ông nói : Theo nhỡn quan Hoa Kỳ, Trung Quốc cần có  một  chuyễn tiếp  chánh trị hòa bình hầu làm chánh phủ  có uy tín và  chịu trách nhiệm  trước nhân dân.

     Chánh quyền Obama cũng lập lại một ngôn từ như vậy, nhưng  đôi chút nhẹ nhàng hơn. Ở  diễn văn  đầu tiên  về chủ yếu chánh sách về Trung Quốc  của chánh quyền Obama tháng 9  năm 2009.  Phó ngọai trưởng lúc đó là  James Steinberg  đưa vào  ý kiến « làm yên lòng chiến lược lần nữa-  strategic reassurance »   Stienberg định nghĩa nguyên tắc như sau:  «  Khi  chúng ta và đồng minh  tỏ rỏ minh bạch là chúng ta sẳn sàng đón mời Trung Quốc đến nơi – arrival  như thể  là một nước thịnh vượng và thành công, Trung Quốc phải tái bảo đảm  cho thế giới còn lại là phát triễn  và vai trò tòan cầu của mình  sẽ không làm tai hại cho an ninh và  hạnh phúc của kẻ khác .»  Trung Quốc phải cần tái  cam kết kẻ khác rằng xây dựng này không là một mối đe dọa »;  Trung Quốc cần «  tăng gia trong sáng  quân sự mình  hầu  tái cam kết mọi quốc gia ở phần Á Châu còn lại và tòan cầu  về các ý định của mình » và chứng minh là Trung Quốc tôn trọng qui tắc  luật lệ cùng tiêu chuẩn  phổ cập khắp nơi. » Theo các nhà phân tích Tàu,  những tuyên bố này gửi di một thông điệp  là Hoa Thịnh Đốn  muốn cọng tác theo các điều kiện của Mỹ, cố tìm kiếm  ngăn cản Bắc Bình phát triễn một khả năng quân sự  thích nghi để bảo vệ các quyền lợi Tàu, và có ý định  đề xướng đổi thay tính chất chế độ Tàu.

    Muốn chắc chắn,  Bắc Bình nghi ngờ Hoa thịnh Đốn phải bằng lòng với sự kiện là Hoa Kỳ đã làm quá nhiều đề xướng Trung Quốc vươn lên.  Nhưng đối với các nhà phân tích Tàu, lịch sữ cung cấp một giải đáp cho trò con rối này.  Họ nhìn thấy là  Hoa Kỳ  chận đứng  Trung Quốc lâu ngày  nếu được. Khi  sức mạnh Nga Sô Viết tăng lên, làm như vậy tỏ ra cần thiết, Hoa Kỳ đã phải bó buộc  giao ước với Trung Quốc, hầu  củng cố  công cuộc chống Mạc Tư Khoa Moscow.  Một khi Hoa Kỳ bắt đầu giao ước với Trung Quốc,  Hoa Kỳ đi đến tin tưởng là cuộc giao ước sẽ  đưa Trung Quốc  về  dân chủ và sẽ trả lại cho Hoa Kỳ căn cứ  chiến lược trên  lục địa Á Châu,  Hoa Thịnh Đốn đã mất đi năm 1949, khi Cọng Sản tòan thắng cuộc Nội chiến Quốc Cọng Tàu.

    Theo nhỡn quan Trung Quốc,  Hoa Thịnh Đốn chậm rải  xích lại gần Bắc Bình  không phải phát sinh từ  lý tưởng và  độ lượng.  Mà thật ra nó được  theo đuổi để Hoa Kỳ có cơ thủ lợi từ nền kinh tế  Trung Quốc mở cửa  bằng cách vắt ép lợi lộc từ các đầu tư Hoa Kỳ, tiêu thụ hàng hóa rẽ Trung Quốc và vay tiền  hổ trợ thương mãi cũng như thiếu hụt thuế khóa.  Trong lúc  tiệc tùng um sùm ở bàn tiệc Trung Quốc, các nhà chiến lược Hoa Kỳ đã bỏ qua hiểm nguy  của Trung Quốc vươn lên mãi cho đến cuối thập niên 1990.  Bây giờ  Hoa Kỳ đã nhận thức Trung Quốc là một đe dọa, những nhà phân tích Tàu này tin rằng không còn cách nào thực tiển ngăn cản  tình trạng tiếp tục phát triễn. Theo cảm nghĩ này, chiến lược gia hảo đã thất bại,  chứng minh  khuyên can  của lảnh tụ Đặng Tiểu Bình  năm 1991, đề xướng  một chiến lược «  che dấu  các ánh sáng Tàu và  nuôi dưỡng sức mạnh Tàu ».  Đối diện một Trung Quốc đã  vươn lên quá cao không làm ngừng lại được nữa, Hoa Kỳ không còn làm được gì hơn công cuộc đang làm:  đòi hỏi  cọng tác theo điều kiện Mỹ, đe dọa Trung Quốc, rào cản quân sự và tiếp tục cố sức thay đổi chế độ .  

 

        Cách nào thực hiện một cuộc tấn công thực tế

 

      Mặc dù  những cái nhìn này,  các nhà chiến lược Tàu dòng chánh không khuyến cáo  Trung Quốc thách thức Hoa Kỳ  trong tương lai gần.  Họ chờ đợi  Hoa Kỳ vẫn duy trì  là kẻ bá quyền tòan cầu  cho nhiều chục năm nữa, dù rằng nay họ đã nhận thức  các dấu hiệu đầu tiên suy thóai.  Hiện tại như lời Vương  Cát Tây- Wang Jisi khoa trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế Viện Đại học Bắc Kinh, «  siêu cường sẽ siêu hơn  và nhiều cường quốc sẽ bớt cường đi » .  Trong khi đó, hai nước sẽ càng tùy thuộc nhau về kinh tế và có đủ khả năng quân sự để gây tổn thương cho nhau. Chính là sự tổn thương lẫn nhau này sẽ mang lại hy vọng trung hạn tốt nhất cho hợp tác.  Lo sợ  lẫn nhau  làm sống động thôi thúc đôi bên phải  họat động cùng nhau.

        Tuy nhiên, trong dài hạn, con đường tốt nhất cho cả hai Trung Quốc và Tây Phương  là sáng tạo một cân bằng sức lực mới, duy trì được hệ thống thế giới hiện hửu, nhưng để cho Trung Quốc đóng một vai trò lớn hơn. Trung Quốc có nhiều lý do tốt đẹp để tìm kiếm kết quả này. Ngay cả khi Trung Quốc trở thành một nền kinh tế lớn nhất thế giới, thịnh vượng Trung Quốc vẫn tùy thuộc  thịnh vượng  các đối thủ tòan cầu  của Tàu ( và ngược lại ), gồm luôn Hoa Kỳ và Nhật Bổn. Trung Quốc càng giàu  thì an ninh các lằn biển cả , ổn định thương mãi thế giới và  các chế độ tài chánh , không lan tràn võ khí hạt nhân, kiểm sóat khí hậu tòan cầu đổi thay  và cọng tác y tế công cọng, cho Tàu càng lớn thêm.  Trung Quốc sẽ không tiến lên  dẫn đạo, nếu các đối thủ cũng không thịnh vượng.  Các nhà chiến lược Trung Quốc phải đi đến hiểu biết là các quyền lợi cốt lõi của Hoa Kỳ   - trong  các nguyên tắc thực thi luật lệ, ổn định miền - vùng và tranh đua mở -  không de dọa gì an ninh Trung Quốc cả thảy.

   Hoa Kỳ phải khuyến khích Trung Quốc chấp nhận cân bằng mới này, bằng cách vẽ ra những đường  thẳng chánh sách rỏ ràng  thỏa mãn  các  cần thiết cho an ninh mình mà không đe dọa an ninh Trung Quốc.  Khi Trung Quốc vươn lên , Trung Quốc sẽ đẩy mạnh  Hoa Kỳ phải tìm  ra những biên cương Hoa Kỳ mong muốn.  Hoa Thịnh Đốn phải  đẩy lui  thiết lập những  biên cương cho uy quyền Trung Quốc tăng trưởng.  Nhưng phải làm điều này  với chuyên nghiệp điềm tĩnh, không phải hiếu chiến  từ chương.  Các  thảo luận chiến dịch diều hâu về chiến tranh thương mãi  và tranh đua chiến lược, đóng góp vào các lo sợ của Bắc Bình  trong khi đó lại  xén bớt  cố gắng cần thiết nhất trí về quyền lợi chung.  Và trong mọi trường hợp, đặt từ chương vào hành động không phải là một lựa chọn  thực tế.  Muốn làm như vậy, sẽ đòi hỏi một  gián đọan  về các mối kết chặc  kinh tế  có lợi lẫn nhau  và các chi phí to lớn  hầu bổ vây Trung Quốc trên phương diện chiến lược, và nó sẽ bó buộc Trung Quốc phải có  những phản ứng  đối kháng.

    Tuy nhiên, quyền lợi Hoa Kỳ liên hệ đến Trung Quốc không có gì đáng tranh cải cả và phải được xác nhận:  một Trung Quốc  ổn định và thịnh vượng, cách giải quyết vấn đề Đài Loan theo các điều kiện cư dân Đài Loan  muốn chấp nhận, tự do giao thông trên các biển quanh Trung Quốc, an ninh của Nhật và các đồng minh Á Châu khác, một nền kinh tế thế giới mở,  và bảo vệ nhân quyền. Hoa Kỳ phải ủng hộ những ưa chuộng này với uy quyền khả tín của Hoa Kỳ, đặc biệt trong hai lảnh vực.  Thứ nhất, Hoa kỳ phải duy trì ưu thế quân sự  ở miền Tây Thái Bình Dương, kể cả biển Đông và biển Nam Trung Quốc. Muốn vậy,  Hoa Kỳ sẽ phải tiếp tục nâng cấp  khả năng quân sự mình, duy trì các  liên minh  quốc phòng miền- vùng, và  giải đáp  tự tín  các thách thức. Hoa thịnh Đốn phải tái  làm yên lòng Bắc Bình là những di động này có ý định tạo ra một cân bằng quyền lợi chung hơn là đe dọa Trung Quốc. Việc làm yên lòng này có thể  hòan tất bằng củng cố  những cơ chế hiện hửu để xử lý  những tương tác  quân sự Mỹ - Tàu.  Chẳng hạn, Thỏa Hiệp Cố vấn Quân sự Biển – Military Maritime  Consultative Agreement hiện hửu phải được sử dụng để  họa kiểu những thể thức giúp các máy bay và tàu hải quân Hoa Kỳ và Trung Quốc họat động an tòan khi xáp gần nhau.

  Thứ hai , Hoa Kỳ phải  tiếp tục đẩy lui , chống lại các cố gắng Tàu làm lại những chế độ tòan cầu hợp pháp theo những phương cách  không phục vụ  quyền lợi Tây phương. Điều này đặc biệt quan trọng trong trường hợp chế độ nhân quyền, một loạt nguyên tắc và thể chế tòan cầu, để giúp qui định  tính cách lâu dài của thế giới tự do Hoa Kỳ từ lâu đã nâng đở.

   Trung Quốc chưa đạt được tiếng nói ngang Hoa Kỳ ở một Cộng Đồng Thái Bình Dương ước đóan  hay một vai  trò   chế độ công quản – condominium  tòan cầu như là một thành viên « G-2 ». Trung Quốc sẽ không cai trị được thế giới trừ phi Hoa Kỳ rút lui, và Trung Quốc vươn lên sẽ là một đe dọa cho Hoa Kỳ và thế giới, chỉ khi nào Hoa Thịnh Đốn cho phép trở thành một đe dọa. Đối với Hoa Kỳ, chiến lược Trung Quốc đứng đắn  bắt đầu tại gia. Hoa Kỳ phải  giữ vững  sáng kiến và đổi mới quân sự xứ sở, nuôi dưỡng những liên hệ với đồng minh và  các cường quốc cộng tác khác, tiếp tục hổ trợ một khu vực giáo dục cao cấp siêu việt, bảo vệ tài sản trí tuệ khỏi bị gián điệp và ăn cắp, và lấy lại niềm tôn trọng của dân gian quanh thế giới. Miễn là  Hoa Kỳ dốc tâm trí  vào các vấn đề của mình tại gia và giữ chặc các giá trị của chính mình,  Hoa Kỳ sẽ xử lý được Trung Quốc vươn lên.

 

                (Chiếu theo  nguyệt san Ngọai Giao – Foreign  Affairs  số tháng 9- 10 năm 2012)

( Irvine , Nam Ca Li, ngày 6 tháng 9 năm 2012 )

    

 

 


 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 248703 visitors (914673 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=