thnlscantho-3
  Chú Tám lò rèn
 
8/4/2013

Nguyễn Thị Kim-Thu

 


 

Hồi học ở bậc Trung học, má thường nhờ tôi đi chợ Cái Răng mỗi tuần vài ba lần. Ở thập niên 1960, Cái Răng chưa có Chợ Nỗi trên sông như ngày nay. Vào thời đó bao nhiêu ghe thuyền buôn bán tụ tập ở Cầu Tàu Cái Răng, trên bờ có bến xe lôi, và Chợ Cái Răng  gồm chợ chồm hỗm chung quanh chợ nhà lồng và nhà cá  Ghe thuyền mang nông phẩm từ vùng quê đến Cầu Tàu vào khuya để bán sĩ và bán lẽ, và chợ tan khi mặt trời mọc. Các nhà buôn trong Chợ Cái Răng hay Chợ Cần Thơ đến đây mua sĩ để bán lại ở chợ nhóm sau đó. Để kịp giờ đi học, tôi thường đi chợ rất sớm ở  Cầu Tàu, tại đây có nhiều hàng rau trái cây gà vịt tôm cá tươi từ trong vườn chở đến mà giá lại rẽ hơn trong nhà lồng chợ. Lý do là các bà nông dân muốn bán cho mau để chèo ghe kịp theo con nước về nhà vì còn nhiều chuyện đồng án khác phải làm trước khi trời nắng gắt.

Tôi thích đi chợ bằng ghe đò, vì nhà tôi cũng gần bến đò của Chị Sáu, chỉ chèo khoảng 20 phút là cặp bến chợ Cầu Tàu Cái Răng bên kia sông. Cái thích thú của đi ghe là thở không khí mát mẻ của sông nước buổi sáng tinh mơ, nhìn phong cảnh  ngoạn mục lúc bình minh, và đặc biệt gặp lại những bà đi chợ từng quen mặt, nhất là chị Sáu-đưa-đò. Nhờ chị, không khí trên ghe lúc nào cũng vui nhộn. Như tôi đã từng nói trong nhiều bài trước (mời đọc lại “Ông Lái Đò”, “Chị Sáu đưa đò”), Chị Sáu-đưa-đò là “đài radio sống” ở Cái Răng, tất cả những chuyện lớn nhỏ xảy ra trong vùng chị đều biết, chị nhận tin từ người này rồi phát thanh cho người khác. Chị ăn nói rất có duyên, pha chút khôi hài dí dỏm, nên ai ai cũng thích đi đò của chị.

Trước khi đến bến đò, tôi phải đi bộ qua một lò rèn trên bến sông. Đó là một nhà lá khá xinh xắn và vững chắc, nhưng không có vách. Nhà trống rỗng. Ở giữa nhà là hai ống bễ thụt hơi bằng gỗ cao hơn mét, phía sau là một băng gỗ cao cẳng để người thụt ống bễ ngồi, mỗi tay nắm một cán thụt, hễ tay này kéo cán lên thì tay kia đẩy cán xuống tạo luồn hơi gió liên tục thổi vào lò than đang cháy phừng phừng. Trước lò than là một cái đe, bên cạnh là một chậu gỗ lớn chứa nước  để làm nguội khối sắt đỏ – gọi là tôi-nước - khối sắt đỏ được đập thành hình dạng con dao hay cái lưỡi hái, v.v. Bên cạnh cái đe là vài ba loại búa lớn nhỏ, như búa cái nẻ, búa đánh quay, hay búa đánh tay. Để hoàn thành một sản phẩm lớn như cái rựa, dao phay hay cái phản cỏ, ngoài người thụt ống bễ, phải cần tới hai người, người thợ chánh – tức thợ cặp – cầm một cái cặp dài, tức một loại kềm, cầm khối sắt nóng đỏ để lên đe, lật qua, lật lại, và một người lực lưỡng khác cầm búa tạ để đập khối sắt nung thành hình dạng sản phẩm. Người thợ cặp và người đập búa phải ăn ý nhau, chỉ cần thấy người thợ cặp lật khối sắt thế nào thì người đập búa phải đập theo nhịp mạnh nhẹ hay nhanh chậm, khi người cặp đặt sắt ở mép đe nào thì người đập búa phải đánh vào chỗ ấy, hay phải thay đổi loại búa cho phù hợp tùy giai đoạn sản phẩm sắp thành hình, v.v. Sau mỗi cái đập là tia lửa bay xẹt ra tứ tung. Vì không có áo và mặt nạ an toàn, nên người thợ lò rèn nào cũng có vết phỏng trên tay, trên người hay cả mặt.

Chú Tám là chủ lò rèn này. Vì để phân biệt với nhiều người thứ Tám trong xóm, ông được gọi là Chú-Tám-Lò-Rèn hay Bác-Tám-Lò-Rèn, tùy theo tuổi tương quan so với cha mẹ của người gọi. Chú Tám là người rất được mọi người trong xóm yêu mến, vì chú hiền từ, giúp đỡ mọi người, và rất vui vẻ. Ngay cả bọn trẻ nghịch ngợm chọc phá “Thợ rèn đập búa đập đe, ….”, chú cũng cười hề hề với bọn trẻ. Đây là lò rèn gia đình, chú là thợ-cặp, con trai lớn  đập búa, con trai kế thụt bễ, còn Thím Tám thì giúp lặt vặt, cũng có khi ngồi thụt bễ. Lò rèn nằm trong góc vườn, cách khá xa nhà chú. Mỗi lần đi chợ sớm, khi ngang qua lò rèn, tôi thường chạy hay đi thật nhanh, vì sợ ma. Mọi người trong xóm cho rằng lò rèn là nơi ma da thường ban đêm đến ngồi sưởi ấm bên bếp than lò rèn. Ở vùng sông nước chảy xiết như sông Cái Răng thì người chết đuối nhiều lắm. Chị Sáu đưa đò còn hù tôi là chính mắt chị thấy có nhiều bóng ma ngồi trong lò rèn lúc đêm khuya.

Tôi thường tò mò hỏi chị Sáu, tại sao lò rèn không làm vách cho kín đáo. Chị cười to, trả lời rằng trong lò rèn có cái gì quí giá đâu để ăn cắp, chẳng ai khùng rinh cái ống bễ thụt hơi hay cái đe nặng tổ bố cắm sâu trong lòng đất. Còn ba cái búa thì chiều tối vác về nhà. Lò rèn để trống cho mọi người vào đụt mưa ban ngày, và ban đêm cho …. ma da vào sưởi ấm chớ. Tôi cũng cười theo chị. Chị cho biết là gia đình chú Tám nguyên ở Cồn Mây. Vì chiến sự lan tràn, không có an ninh, nên gia đình Chú Tám dời cả sự nghiệp cùng Lò Rèn về định cư ở bãi sông Cái Răng. Như từng mô tả trong các bài trước, vùng bãi sông bên kia con lộ là khu dân tản cư đến tạm trú, như nhà “Ông Hai Móm” (Ông Lái đò), Cô Giáo Thủy Tiên (Bông lục bình oan nghiệt), nhà Ông Tư Rô (Cái chết của ông đồ tể). Chị Sáu cho biết là Chú Tám thừa kế nghề rèn từ 5-6 đời nay, từ thưở Chúa Nguyễn còn bôn ba trốn lánh ở vùng Hậu Giang. Nghe nói ông tổ của Chú gốc người miền ngoài, theo quân chúa Nguyễn, làm nghề rèn sản xuất gươm mác đánh trận. Chú hãnh diện về tổ tiên của mình. Trong lúc làm việc chú thường ngâm nga hò câu ca dao ca ngợi nghề rèn.

Một bên đèn sách văn chương

Một bên đe, búa em thương bên nào ?

Đèn sách em vứt xuống ao

Đe, búa em để võng đào em đưa…”

 

Hồi còn trai tráng, chú có giọng hò quyến rũ, và ca vọng cỗ mùi lắm. Thím Tám mê Chú về giọng hát câu hò. Nghe nói là ngày xưa Thím không chọn ông thầy giáo trong làng mà chọn lấy chú, nên chú rất đắc ý mấy câu  ca dao trên, thường ngâm nga tưởng nhớ thời trai trẻ của mình. Nhưng bây giờ, chú già rồi, răng rụng gần hết, miệng đã móm, ăn uống còn khó khăn, huống chi ca hát. Vợ con thương tình, dành dụm tiền để chú ra Cần Thơ làm bộ răng giã. Nhờ vậy, miệng chú bớt móm, ăn uống dễ dàng, và tuy ca hát có kém hơn ngày xưa, nhưng nhờ tính tình vui vẻ, ăn nói hoạt bát nên còn hấp dẫn mọi người.

          Chú Tám-Lò-Rèn nỗi tiếng trong xóm vì tính tình khả ái, quí trọng láng giềng, lúc nào cũng giúp đỡ mọi người. Thông thường buổi sáng chú cùng hai con rèn những dụng cụ lớn, như dao phay, lưỡi hái, phảng cỏ mà chú làm thợ cặp, trai lớn đập búa. Còn buổi xế chiều thì con trai lớn làm những dụng cụ nhỏ như dao nhỏ, kéo, với một tay cặp, một tay búa cũng rèn được. Buổi xế, chú đi giao hàng, giao dịch kiếm mối cho những ngày sau. Chú quảy trên lưng những sản phẩm mới làm, và chú đi dạo từng nhà, từ xóm này qua xóm  khác. Ai cũng biết chú, và chú cũng biết hết gia cảnh mọi người trong vùng Cái Răng và lân cận. Ngoài  việc bán dao, rựa chú sản xuất, Chú còn nhận sửa chửa dao mẻ, mài dao cùn, với giá thật rẽ hay đôi khi làm dùm tại chỗ. Với các bà già trầu, chú xem dao xẻ cau còn bén hay không, nhà nào có dao mòn quá, chú nói trước với chủ nhà là sẽ “bán” một dao mới. Bởi vì tục lệ cử kiên ở vùng quê là không ai “biếu”, “cho” hay “nhận” dao, mà phải “bán” hay “mua”. Vì vậy, khi chú giao cái dao chẻ cau mới thì chủ nhà phải trả lại chú một số tiền tượng trưng, thật rẽ, coi như là cho không. Vì vậy, ai ai cũng mến chú. Từ xóm trên đến xóm dưới, nhà nào có giỗ, tiệc, đám cưới, đám tang chú đều có mặt. Nhất là những đám giỗ, tiệc vui, đám cưới, ai cũng mời chú. Trong các tiệc vui này, mọi người đều yêu cầu chú hát vọng cỗ hay hò, và làm hoạt náo viên như MC ngày nay. Nhờ Chú, buổi tiệc vang tiếng vui cười, náo nhiệt.

          Chị Sáu-đưa-đò một lần kể cho tôi nghe Chú Tám bị tổ trát. Chẳng là trong đêm trước ngày đưa dâu, bà con láng giềng đến nhà gái một ngày trước để giúp tổ chức đám cưới, đàn ông thì mổ heo, làm thịt gà vịt, đàn bà thì bếp núc, nấu nướng dự bị cho ngày hôm sau. Vì vậy, buổi chiều tối đó vui lắm, đèn măng xông cháy sáng rực từ trong nhà đến ngoài sân, và Chú Tám đến giúp việc trong dịp này. Lúc ngơi nghĩ, mọi người tụ họp ở nhà dưới, và yêu cầu Chú Tám hát vọng cỗ. Được dịp trổ tài. Thế là Chú đứng dậy, rút từ trong túi áo cái nhịp song lang. Chú bắt đầu hát, tay nhịp song lang, bước tới bước lui như một tài tử sống động. Mọi người chăm chú theo dõi,  từng nhịp song lang, bài vọng cỗ vui tươi của ngày đám cưới. Vì tuổi già, thiếu hơi đễ cất giọng thật cao trước khi xuống câu vọng cỗ mùi, chú hít hơi thật dài. Ai ai cũng chờ đợi vỗ tay khi Chú sắp sửa xuống câu vọng cỗ, thì mọi người nghe một tiếng “cạch”. Chú vội vàng một tay bụm miệng, tay kia quờ quạng dưới nền nhà. Mọi người vừa vỗ tay, vừa cười ầm lên: hàm răng giã của chú bị luồng hơi thổi bay xuống đất. Tuy bị “quê”, chú vẫn tiếp tục ca hát làm vui lòng bà con mộ điệu. Vì vậy, ai ai cũng thương mến chú.

 

Reading, 4/2013

Nguyễn Thị Kim-Thu

 

 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 264455 visitors (944331 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=