thnlscantho-3
  Cây cối sửa đổi di truyền
 
28/10/2012


Vài quan niệm về cây cối- mùa màng sửa đổi di truyền, có lẽ nông nghiệp Việt Nam cần hiểu rỏ thêm chăng ?

 

G S Tôn thất Trình

 

Sửa đổi di truyền là một ngành công nghệ kỹ thuật khá mới ở trên thế giới để tăng gia hay cải thiện nông lâm ngư nghiệp. Đối với một nước còn xuất khẩu nhiều nông phẩm như Việt Nam, tưởng cũng nên biết qua quan điểm ở những nước tiên tiến như thế nào hiện nay về công nghệ này . Sau bài về phản ứng của các hảng Mỹ về cá hồi và động vật  sửa đổi di truyền  than phiền  thủ tục Cơ quan Thực Phẩm và Dược Phẩm FDA quá chậm trễ … đây là một vài khía cạnh  tranh chấp chánh ở ngành sửa đổi thực vật- cây cỏ  tiến bộ nhất là bắp , đậu nành … sửa đổi di truyền chịu đựng được thuốc diệt trừ cỏ dại – Roundup của tổ hợp công ty Monsanto , trụ sở trung ương  ở thành phố Saint Louis , bang Misouri – Hoa Kỳ .

 

1-                        Biết rỏ cái gì bạn ăn ( chiếu theo Daniel Imhoff  tác giả sách “  Tranh đấu Thực phẩm:  Chỉ dẫn cho Công Dân - Hoa Kỳ về Thực phẩm Sắp tới và Đạo luật Nông Trang -  Food Fight: The Citizen’s Guide to the Next Food and Farm Bill ;  và Michael R. Dimock  chủ tịch Cội Rễ của Đổi Thay và  chủ tịch danh dự  của  Thực phẩm Chậm Hoa Kỳ - Roots of Change and Slow Food USA. )

 

 Ở Hoa Kỳ, dân chúng đang cầm tay  một sức lực lựa chọn của người tiêu thụ ở dãy sắp hàng quầy trả tiền, hầu linh thiêng như lá phiếu người đi bầu ngay tại thùng phiếu vậy đó. Tháng11 năm 2012,  dân chúng bỏ phiếu bang Ca Li sẽ được hỏi xem là có bảo vệ quyền hạn của người mua thực phẩm có thêm thông tin về đồ họ mua không. Chấp thuận  Đề Nghị 37 có thể thay đổi tương lai thực phẩm ở xứ Cờ Hoa này. Sáng kiến bắt rễ từ một tiền đề đơn giản : Người tiêu thụ có quyền biết là thực phẩm họ mua ăn có được sản xuất  sử dụng  thể thức công nghệ di truyền, nghĩa là thao tác DNA hay chuyễn DNA từ các  sinh vật này đến sinh vật khác. Bất cứ một sản phẩm thực phẩm động vật hay thực vật nào  với gen( es ) đã làm công nghệ sẽ phải ghi nhãn hiệu.

Đây không phải là một ý kiến mới cơ bản đâu nhé.  Nó đã là thủ tục tiêu chuẩn cho mọi quốc gia thành viên  của Hiệp Hội Âu Châu nhiều năm qua. Khảo cứu mới nhất vừa xuất bản cho thấy 61 nước có vài dạng ghi nhãn hiệu bắt buộc cho các thực phẩm thành phần chứa mùa màng thay đổi di truyền. Các công ty bán các hột giống  sửa đổi di truyền  và thực phẩm chế biến biện cứ là dân tiêu thụ Mỹ không cần  những nhãn có đủ chi tiết như thế. Họ nói “ “Chỉ tin cậy vào chúng tôi”( là đủ ).

Có nhiều câu cần hỏi.  Nhãn hiệu ở sản phẩm là tiền tuyến  bảo vệ người tiêu thụ.  Khảo cứu và phát triễn  trên các sản phẩm công nghệ di truyền  (cũng được biết dưới tên gọi là các sinh vật sửa đổi di truyền – genetically modified  organisms hay GMO )  phần lớn do các nhà khoa học lảnh vực tư làm ra, không phải của lảnh vực công, vì lẽ  các công ty  năng nổ  bảo vệ môn bài của họ. Theo  Trung tâm về An Tòan Thực phẩm đến  tháng giêng năm 2010,  tổ hợp Monsanto đã nạp  đơn  khởi tố 136 vụ kiện,  chống lại các nông gia đã  vi phạm thõa hiệp kỷ thuật hay môn bài của Monsanto trên các hột giống công nghệ di truyền sửa đổi. Những ca này  đã liên quan tới 400 nông gia và  53  doanh vụ nông trang nhỏ. Mức độ bí mật và tính chất hiếu chiến của ngành công nghệ, đã châm thêm nhiên liệu ( dầu ) cho công chúng ngờ vực.

Tiếc thay, người tiêu thụ không thể  trông cậy chánh phủ liên bang để tăng gia lòng tin cậy của họ. Cơ quan Thực phẩm và Dược Phẩm ( Hoa Kỳ )- Food and Drug Administration ( FDA )  không đòi hỏi phải ghi nhãn hiệu cho các sản phẩm GMO.  Nhiều người lo sợ  là vài chức quyền  chánh phủ ở những vị trí  làm chánh sách trên các sản phẩm di truyền lại có thể thiên lệch về các  nghề nghiệp cũ,  khi họ còn là nhân viên các công ty hột giống GMO. Ngờ vực càng phóng đại thêm vì những câu hỏi  ai thực sự  hưởng lợi từ các thực phẩm GMO. Một kẻ hưởng lợi là ngành công nghệ  thuốc diệt trừ cỏ (dại).   Các gen (es ) kháng thuốc diệt trừ cỏ dại  đã được cấy trong bắp ngô và đậu nành ( đổ tương ), cho nên khi phun xịt thuốc trên đồng  ruộng ,cỏ  chết và những mùa màng cây gieo trồng lại sống sót.  Năng xuất vài mùa màng không còn gia tăng thêm và nông gia  nay phải đối đầu các “ siêu cỏ dại – super weeds  đòi hỏi tăng gia thêm sử dụng các thuốc diệt trừ cỏ dại độc hại.  Rất nhiều các tổ hợp, chủ nhân các môn bài mùa màng GMO, cũng là  thành viên của công nghệ thuốc diệt trừ cỏ dại.

Một lo ngại khác  là giá cả hột giống bán cho nông dân lên cao tận trời xanh. Theo Sở Khảo cứu Kinh tế của bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, giữa các năm 1995 và 2011, giá trung bình hột giống để gieo một mẩu Anh đậu nành và bắp tăng lên  theo thứ tự là 325% và 259%.   Đó là những năm đậu nành và bắp GMO tăng từ  ít hơn 20% tổng số diện tích trồng đến hơn 80% cho bắp và và 90% cho đậu nành. Cuối cùng,  các sản phẩm GMO không đem lại lợi ích gì rỏ rệt cho dân tiêu thụ Hoa Kỳ  cả thảy . Không có một tính trạng  di truyền nào đưa vào làm cho sản phẩm thực phẩm  lành mạnh hơn, ăn ngon hơn hay cất giữ lâu dài hơn. Ngọai trừ một mảnh ruộng khảo cứu giữ cách xa trung tâm sản xuất , các nông gia trồng lúa gạo ở California đã từ chối hổ trợ dẫn nhập lúa gạo  GMO, vì Nhật đã cấm nhập khẩu lọai gạo Mỹ GMO mua gạo Mỹ .

Vài nhà chỉ trích chắc chắn  là nhìn cách ghi nhãn GMO  như thể là một luật  tính trạng vú em – nanny state”   và biện cứ rằng xét lại các nhãn hiệu sẽ tăng thêm phí tổn. Nhưng Đề Nghị 37 chỉ đơn giản yêu cầu gói hàng căn bản trong trắng và chân thực và các công ty phải thực thi trong vòng 18 tháng.  Và nó sẽ bảo vệ  quyền hạn người tiêu thụ  biết rỏ một  lọai sản phẩm  trọng tâm sức khỏe.  Như ca  giải quyết vụ thuốc lá  nhiều tỉ đô la Mỹ năm 1998,  không thể nào luôn luôn tin cậy được  là các công ty sẽ đặt  y tế- sức khỏe trên lợi lộc.  Các nhà điều hành tổ hợp phải đối diện với yêu cầu tối đa hóa tài sản của cổ phần viên.  Yêu cầu này thường thắng cuộc trên mọi mối lo tâm khác.

 Chiếu theo lịch sử này, và các cuộc chiến đấu  độc địa  giữa các nhà khoa học  vẫn còn tranh luận  các nguy hiểm của một kỷ thuật  mới tương đối trẻ măng, ghi nhãn các thực phẩm GMO  giúp cho các người đi tiệm mua , có được những lựa chọn thông tin đích xác về những mức độ  hiểm nguy họ bằng lòng đảm nhiệm.  Nay các nhà ủng hộ Đề Nghị 32 đang phải chiến đấu “ Một David chống Goliath- Bé con chống Khổng lồ” .Các nhà hổ trợ chỉ mới thu góp được  hơn 4 triệu đô la, đa số tiền này là từ các công ty  nhỏ thực phẩm thiên nhiên  như Organic Valley- thung lũng Hửu cơ,  Nông trang Gia đình Lundberg, Thực phẩm Lối Mòn Thiên nhiên, Bếp núc của Amy. Các nhà chống đối Đề Nghị này đã thu góp được 34.5 triệu đô la, gần phân nữa là  từ Monsanto, Dupont,  Khoa học Canh Nông Dow, và Khoa học Mùa Màng Bayer, nhưng tổ hợp chủ nhân hầu hết các môn bài hột giống GMO.

  Người đi bỏ phiếu có thể không nhận thức được ý nghĩa rộng rải của cuộc chiến đấu này.  Với  kinh tế 2 tỉ đô la và 38 triệu dân cư ngụ ( gần 12 % tổng số dân Hoa  Kỳ ), thị trường California không  thể nào cách ly ra được.  Năm 2008, chẳng hạn, các doanh vụ nông nghiệp ngòai tiểu bang  tài trợ chống đối Đề Nghị 2 của tiểu bang, cấm  dùng các kỷ thuật ác độc nhốt  thú vật nuôi tỉ như chuồng gà bé tí xíu cho gà đẻ trứng và những thùng thưa  nhốt suốt đời bò cái sinh đẻ.  Gần 2/3 dân tiểu bang đi bầu hổ trợ những mẩu mực nhân đạo hơn và luật này đã gây sóng gió khắp nước Mỹ .          

Ngày 6 tháng 11 năm 2012, California có cơ hội tái khẳng định quyền hạn cơ bản của người tiêu thụ đã mất đi ở  hành lang tiệm tạp hóa: quyền biết rỏ những gì họ mua.Tóm lại, nếu như  không có khuyết điểm  sức khỏe hay môi trường về các thực phẩm sửa đổ di truyền, thì các người ủng hộ các thực phẩm này có gì phải lo sợ khi ghi  chúng vào nhãn hiệu ?

 

2-Khoa học rác rưới phía sau Đề Nghị 37 ( quan điểm của Michael Hiltzik, biên tập viên nhật báo LA Times )

 

 Đề nghị Proposition 37 biện pháp hòm phiếu  bắt buộc  phải ghi nhãn hiệu thực phẩm sửa đổi di truyền. Còn được biết là sáng kiến “ quyền hạn được hiểu rỏ”  đang  chạy lên trước các chống đối, theo cuộc thăm dò ý kiến cử tri mới đây nhất.  Ngay cả khi biện pháp tụt dốc lại sau,  -và đó là mục tiêu của tấn công  quảng cáo  giá 35 triệu đô la của các quyền lợi nông nghiệp và  công nghệ thực phẩm -  chiến dịch phía sau  đó sẽ đánh dấu  một  cột mốc  quan trọng về chánh trị: sự dàn quân  khoa học vỏ khí hạng rác rưới –  weapons grade junk science .  

Lẽ dĩ nhiên ngu dốt và  chủ nghĩa chống duy lý trí  không phải là một hiện tượng mới mẽ gì ở những cuộc bỏ phiếu Hoa Kỳ hay là những tiến trình chánh trị ở các nước khác, độc tài hay dân chủ cũng vậy thôi . Giả Khoa học- Pseudo science  là một phần hay một mảnh của  các tổ hợp quảng cáo trong mọi tầng lớp báo chí thông tin ( “ tôi không phải là một đốc tờ , nhưng tôi đóng vai một đốc tờ ở ti vi” ) . Nhưng nơi khoa học là trọng tâm của chiến dịch  như ở Đề Nghị 37, đề cao khoa học rỏ ràng là  hàng xấu –thứ phẩm,  đặc biệt đáng hổ thẹn.  Hổ thẹn lên gấp đôi khi liên hệ đến tình trạng hiểm nghèo của ngành công nghệ hàng tỉ đô la, hàng chục ngàn công ăn việc làm, sức khỏe và hạnh phúc, ấm no của  nhiều triệu người tiêu thụ.

Khảo cứu này là một bài bản xuất bản cách đây vài tuần của một nhóm do nhà sinh học Pháp Gilles-Eric Seralini dẫn đạo. Khám phá của nhóm nổ vang:  các chuột la bô nuôi đến  hai năm bằng bắp sửa đổi di truyền, một giống bắp tiêu thụ rộng rải ở Hoa Kỳ , đã phát triễn những u ung thư quái đản, đồ sộ. Bài bản này tuyên bố đây là một tài liệu chi tiết  đầu tiên về những ảnh hưởng  có hại dài hạn,  gây ra bởi tiêu thụ lọai bắp này.  Seralini cũng tìm thấy những ảnh hưởng tương tự  trên chuột nuôi bằng các nồng lượng  lớn thuốc diệt cỏ dại Roundup , một lọai thuốc đã được bắp sửa đổi công nghệ di truyền chịu đựng nổi,  và cả ở trên chuột  nuôi bằng một phối hợp bắp và Roundup. Cả hai sản phẩm đều do Monsanto  thị trường hóa, một tổ hợp đã đóng  ít nhất là 7.1 triệu đô la cho chiến dịch nói “ Không – the No  cho Đề Nghị 37.  

                   Chiến dịch Đề Nghị  37 tấn công đột ngột một sự hiển nhiên, tuyên bố ở Blog chiến dịch : Các U Ung thư To tướng  trên Chuột Nuôi bằng Bắp  Sửa đổi Di truyền của Monsanto  tại Nghiên cứu Dài hạn Đầu tiên.  Nữ phát ngôn viên  của chiến dịch Stacy Malkan, khẳng định  trên cuộc phỏng vấn rađiô  là “ các nhà khảo cứu  báo cáo rằng tìm thấy những ảnh hưởng rất nghiêm trọng cho sức khỏe, ở một duyệt xét các đồng nghiệp ngang hàng trên tập san  được kính nể. Bà gọi nó là nghiên cứu y tế dài hạn đầu tiên trên động vật  về các thực phẩm sửa đổi di truyền hiện diện  ở chế độ ăn uống Hoa Kỳ đã hơn 15 năm nay.

                 Bề mặt ngòai nó tuồng như là một lời nguyền rủa. Thế bên dưới thì sao ?

                 Bài bản Seralini hút dẫn gần như tức khắc  chế riễu  từ tổ chức khảo cứu, trên nhiều điểm tính. Rất nhiều chỉ trích đã được phổ biến rộng rải và đầu tháng 10 / 2012  chúng đã được Chức Quyền Âu Châu về An tòan Thực phẩm tăng viện. Chức quyền này không được xem là thân thiện với ngành công nghệ mới. Chức quyền xem bài bản  chưa đủ phẩm giá khoa học để xếp vào lọai có giá trị  hầu định lượng hiểm nguy. Seralini gạt bỏ phần lớn chỉ trích, xem đó là sản phẩm không phải thuộc “ cộng đồng khoa học” mà là “ đại diện cho ngành công nghệ sinh học – biotech industry’.

                Seralini nói với Hiltzik trong một cuộc phỏng vấn là nếu nghiên cứu của Seralini đúng sự thật, đòi hỏi thử nghiệm các mùa màng sửa đổi truyền  chặc chẻ hơn nữa, sẽ gây ra một khủng hỏang ở ngành công nghệ sinh học; cho nên họ muốn  đào thải nghiên cứu của Seralini ra một bên. Thật ra bài bản Seralini không phải là nghiên cứu dài hạn  thực phẩm sửa đổi di truyền đầu tiên về chế độ ăn uống Hoa Kỳ . Tập san  xuất bản bài bản Seralini ( Ngành Độc tố Học Thực phẩm và Hóa Chất – Food and Chemical Toxicology )  đã đăng tải một khảo sát tổng quát 12 nghiên cứu  bắp, đậu nành và lúa gạo thử nghiệm trên chuột, bò cái, cá hồi và khỉ kéo dài đến 2 năm, và tổng quát tìm thấy là không có chứng cớ gì nguy hiểm cả thảy.

                Trước khi  đi vào chi tiết về chỉ trích bài bản Seralini, sau đây là vài viễn cảnh.  Đã biết chắc chắn  là khi nào nhiều tiền của và chánh trị xen vào, khoa học chặt chẽ là nạn nhân  đầu tiên. Nhà vật lý học  danh tiếng Alvin Wienberg  tiên tri đóan trước  hiện tượng này cách đây nữa thế kỷ. Weinberg viết năm 1961 là những vấn đề khoa học hay kỷ thuật đáng khen, có khuynh hướng được biện cứ trong dân gian,  không phải trên báo chí khoa học, hay ở phòng họp các ban Quốc hội ( Hoa Kỳ )  hơn là ở hội trường diễn thuyết các hội Khoa học. Và phần ngọan mục hơn là phần nhận thức, đã trở thành mẩu mực khoa học.

               Khoa học càng khó hiểu – bí hiểm , cơ hội tai họa càng lớn thêm. Tỉ như chiến dịch chánh trị tiếp diễn  chống lại chứng cớ thay đổi khí hậu do con người cảm ứng ra  và sự kiên trì của thuyết sáng tạo linh hồn ( Chúa tạo ra ) – creationism    các chương trình giảng dạy học đường Hoa Kỳ. Theo nhà sinh vật học Michael B. Eisen, viện đại học Berkeley, một chiến sĩ thập tự chinh – crusader  chống lại khoa học rác rưới, hiểm nguy thật sự  là sự xói mòn ý kiến hể nơi nào chánh sách công cọng cắt ngang khoa học, dân gian có bổn phận  phải hiểu rỏ khoa học.

           Ngu dốt công cọng có thể là một vỏ khí uy vũ ở tay  ai đó hung hăng vung gươm  khoa học mang theo một mã bề ngòai của tín nhiệm, đáng tin cậy. Chính thế, bài bản Seralini đã được đăng tải ở một tập san “ duyệt xét với kẻ ngang hàng – peer  reviewed”, nhưng điều này không làm cho bài bản không còn chối cải, tranh luận được nữa. Duyệt xét ngang hàng đã được biết là hay thất bại, không phải ít thông thường và càng trở nên ít thông thường hơn cho những bài bản đã được xuất bản  có cơ bị hủy bỏ hay  rút lui, khi những dữ liệu của chúng cho thấy là không tin cậy được.

          Bây giờ hãy trở về Seralini. Chỉ trích tổng thể chánh thí nghiệm của ông là tuồng như nó được vẽ họa kiểu để  chứng minh một kết luận, hơn là khách quan  thử nghiệm một giả thuyết. Dù cho Seralini tuyên bố là không có  xung đột quyền lợi  trong công trình ông, ông đã được biết là một nhà làm chiến dịch chống lại các thực phẩm sửa đổi di truyền, giải tỏa cuốn sách của ông về chống sửa đổi di truyền và  cuốn phim ông làm “ Tất cả đều là  vật hy sinh – Tous cobayes  tạm dịch là: Chúng ta thảy đều là Chuột lang Vật hy sinh- We are All Guinea Pigs   trùng hợp với  đăng tải bài  bản .

        Trong số những chỉ trích thông thường nhất của thí nghiệm là Seralini đã dùng số chuột kiểm sóat không đủ- 120 con chuột thử nghiệm  được nuôi bằng bắp sửa đổi di truyền, Roundup hay cả hai, nhưng chỉ  có 20 chuột kiểm sóat nuôi bằng bắp bình thường. Các nhà chỉ trích nói rằng số chuột kiểm sóat quá ít để  có giá trị thống kê. Hơn nữa,  các nhà khảo cứu xác định là không có phản ứng về số nồng lượng – dose dùng.  Các chuột nuôi bằng thuốc diệt cỏ dại nồng lượng cao không  nhất quán đau bệnh nặng hơn  là chuột nuôi bằng nồng lượng thấp hơn. Thật tế, vài chuột nuôi bằng nồng lượng cao lại tốt đẹp hơn- better là các chuột khác .

        Seralini không cung cấp giải thích tại sao  chuột nuôi thuốc diệt cỏ sẽ trình bày một bệnh lý y hệt chuột nuôi bắp sửa đổi di truyền không nuôi bằng thuốc, dù Roundup và bắp sửa đổi di truyền là hai điều  khác biệt hẳn nhau ; làm ai đó  sẽ giả thiết là có những ảnh hưởng khác nhau trên sinh vật.  Điểm này hướng về một sai sót khác của bài bản là không có giải thích nào hay ngay cả giả thuyết là tại sao là ngay cả tính cách không tinh khiết- ô uế cũng sẽ sản xuất ra những u ung thư Seralini tìm ra. Kevin Folta, một nhà sinh học  thực vật viện đại học Florida, người đã viết chỉ trích mạnh bài bản Seralini nói : “ họ không trình bày một cơ chế  hợp lý  sinh hóa hay phân tử về ảnh hưởng. Có hai cách sử dụng hòan tòan độc lập, thuốc diệt trừ cỏ  và sản phẩm sửa đổi di truyền và tìm thấy cùng một phản ứng không bình thường  về cả hai cách, đúng là đã vượt quá khả nghi.”

         Thừa tố phức tạp cuối cùng là dòng chuột  la bô Seralini sử dụng  dòng dễ thiên về u ung thư , đặc biệt là u ung thư vú. Đến  khỏang tuổi 2 năm,  trung bình 80% số chuột này sẽ có u ung thư.  Thế cho nên, thí nghiệm càng lâu dài dữ liệu càng mờ mịt thêm, vì đa số chuột dẫu sao đi nữa cũng đầy u ung thư rồi.  Nói một cách khác, thời gian thí nghiệm dài không phải là một đức tính, như Seralini quả quyết, mà có thể là một sai lầm. Seralini trả lời rằng bài bản ông viết đã đề nghị một cơ chế cho độc hại – và các hormones dục tính đã bị Roundup làm hổn lọan.  Nhưng bài bản vẫn rất mơ hồ  về tại sao  bắp sửa đổi di truyền lại có ảnh hưởng tương tự, và các nhà khảo cứu khác không nghĩ rằng giả thuyết Seralini là đáng thuyết phục.

          Seralini đồng ý  là tốt hơn,  nếu thử nghiệm 600 con chuột  thay vì 200 con, nhưng như thế sẽ tốn  26 triệu đô la Mỹ thay vì 4 triệu. Ông nói; “ tôi đồng ý là bài có  nhiều giới hạn. Tôi không hề nói là nghiên cứu của tôi tuyệt đối hòan hảo.  Mọi nghiên cứu đều có thể cải thiện. Nhưng điều này không có nghĩa là nó sai lầm. Tuy nhiên đây là một khai thác chánh trị của một nghiên cứu rỏ ràng là không hòan hảo và chính điểm này gây bối rối. Sử dụng một thông tin kém cỏi, đề xướng một sáng kiến nhằm tạo ra một lọai người tiêu thụ sáng suốt, là định nghĩa một sai lầm của Đề Nghị 37 .  

          Sai lầm này càng nặng nề hơn khi chính sáng kiến muốn thực hiện  các phương tiện kết thúc của mình, chứa đầy rẫy những nhập nhằng – hai nghĩa  và những miễn trừ- chẳng hạn các sản phẩm sữa, thịt tươi,  và thực phẩm các tiệm ăn , mọi thứ thóat ra ngòai mệnh lệnh ghi nhãn hiệu. Hơn nữa, gọp chung lại  tất cả vô số  dạng hình công nghệ di truyền vào cùng một lọai chứa đồ lặt vặt đủ thứ – catchall, dù rằng chúng thảy đều đáng lo ngại như nhau, sẽ làm cho người tiêu thụ trung bình  không còn có  cột chỉ đường dùng được nữa , những gì cần mua sắm,  những gì cần tránh.

         Những chỉ trích bài bản Seralini  gợi ý  là nó vẽ ra để làm hoảng sợ, không phải để thông tin. Ngay cả khi  nó không làm như vậy,  nó đã được  các người đề xướng sử dụng như vậy.  Như Eisen nói: “Chánh sách công cọng  không phải được vẽ ra để nuôi nấng  mức độ ngu dốt đó .”

 

                              ( Irvine ,  bang Ca Li- Hoa Kỳ  ngày 18 tháng 10 năm 2012 )                         

 

 

 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 271349 visitors (954631 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=