thnlscantho-3
  Câu lạc bộ Rome
 
24/7/2012

Thử tìm đường lối “mới” phát triễn xa hơn ý niệm xuất khẩu “ hàng hóa” cho Việt Nam ? Bài học:
                      
Cảnh báo Môi trường vô căn cứ ngày trước và ngày nay
G S Tôn Thất Trình
 
              Hay là Vấn đề Câu Lạc Bộ La Mã – Club of Rome và Những Vấn đề của Chúng ta , theo bài xã luận của G S Bjorn Lomborg, Phó giáo sư Trường Doanh vụ Copenhagen và Trung tâm Nhất trí Copenhagen, Đan Mạch, tác giả các sách Kẻ Môi sinh Hòai nghi – The Skeptical EnvironmentalistLàm nguội đi – Cool it, đăng tải ở số tháng 7- 8 năm 2012, nguyệt san Ngọai Giao - Foreign Affairs . G S Bjorn Lomborg cuối tháng 6 năm 2012 cũng đã bênh vực dự án phát triễn công nghệ và đô thị ở đầm lầy Nakivubo Swamp tại thủ đô Kampala xứ Uganda, trái với nhà kinh tế học Hòa Lan Pavan Sukhdey ở nghiên cứu “ The Economics of Ecosystems and Biodiversity” viết cho Liên Hiệp Quốc. Lomborg cũng không đồng quan điểm với nhà kinh tế học đọat giải Nobel kinh tế Joseph Stiglitz , muốn đi xa hơn GDP trên việc đo lường sức khỏe đời sống quốc gia , bằng cách tính thêm vào GDP giá trị của việc tồn trữ nước , kỳ cọ không khí và bảo vệ bờ biển nhờ cây cối, đất đai và các rặng san hô. ( nhắc lại là Stiglitz và bà vợ ông cũng đã cố vấn và dạy kinh tế học ở Đại học Hà Nội trước đây, hổ trợ mạnh mẽ cho nhà kinh tế học luôn luôn được trích dẫn về kinh tế Việt Nam là Lê Đăng Doanh ).      
             Cách đây 40 năm, nhân lọai được cảnh báo: đuổi theo tăng trưởng kinh tế không ngừng, mỗi ngày mỗi lớn hơn, sẽ là kết tội mình tiến tới tai họa. Câu lạc bộ Rome,  một thu thập đa quốc gia các doanh nhân, học giả, chức quyền chánh phủ vinh dự nhất tài phiệt Ý Aurelio Peccei gom nhặt, làm ra một trường hợp tiên đóan ở một cuốn sách mỏng năm 1972 tên gọi là “Những Giới Hạn Cho Tăng Trưởng - The Limits to Growth’. Căn cứ trên những dự báo những lọat kiểu mẩu computer phức tạp, do các giáo sư MIT phát triễn, sách đã gây ra một xúc động và chụp bắt được một tinh thần thời đại – zeitgeist lúc đó: tin tưởng là những thèm muốn dâng cao thêm của nhân lọai là một cuộc chạy bộ đưa đến đụng độ với các tài nguyên thế giới có giới hạn và  sẽ tan vỡ , sụp đổ, phá sản nay mai.           
                    Những Giới hạn cho Tăng Trưởng cũng không phải là sách xuất bản đầu tiên hay cuối cùng tuyên bố điểm tận thế- chấm dứt đã đến gần, vì cơn bệnh do phát triễn cận đại gây ra, nhưng trên nhiều phương diện, sách rất mực thành công. Tuy ngày nay, sách hầu như bị quên lảng, nhưng vào thời kỳ đó , sách là một hiện tượng khối to lớn, bán ra 12 triệu cuốn, dịch ra trên 30 thứ tiếng và được Thời báo The New York Times mệnh danh là một trong những tài liệu  quan trọng nhất thời đại chúng ta. Ngay cả khi được chứng tỏ là một sách đầu óc sai lạc phi thường, nó cũng đã thiết lập các điều khỏan cho một tranh luận những vấn đề khẩn thiết kinh tế, xã hội và đặc biệt là chánh sách môi sinh, cùng với những ảnh hưởng hiểm độc dính liền vào ý thức công cọng 40 năm sau. Không phải là phóng đại qúa đáng khi nói rằng sách này đã giúp thế giới rơi xuống con đường lo âu ,  bị ám ảnh về những giải pháp cứu chửa lạc hướng cho các vấn đề thứ yếu , trong khi lại quên hết những quan tâm lớn hơn nhiều và những phương cách dễ cảm giải quyết chúng .
 
                  

                   Kịch trình diễn thập niên 1970  
 
      Nếu thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 đã là một thời kỳ lạc quan kỷ thuật, đến đầu thập niên 1970, tâm trạng ở các nước công nghệ tiên tiến đã bắt đầu trở nên dễ sợ. Chiến Tranh Việt Nam là một tai họa, các xã hội xáo động, các nền kinh tế khởi sự trì trệ. Sách Mùa Xuân Im lặng- The Silent Spring, năm 1962 của Rachel Carson (chúng tôi thường nêu lên ở giảng đường Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc – Sài Gòn các thập niên 1960- 70  vài quan điểm cuả Carson liên quan đến cận đại hóa nông nghiệp) đã tăng quan tâm về ô nhiễm và làm nẩy lữa phong trào môi sinh cận đại. Sách Quả Bom Dân số- The Population Bomb , năm 1968,của Paul Ehrlich đã biện cứ là nhân lọai đã tự mình rơi vào quên lãng. Ngày Trái đất - Earth Day đầu tiên, năm 1970, được đánh dấu bằng bi quan về tương lai và cuối năm đó, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon thiết lập Cơ Quan Bảo vệ Môi sinh – Environmental Protection, EPA   để giải quyết vấn đề. Đó là tình huống làm sách Những Giới hạn của Tăng Trưởng rền vang. Thiên tài sách là đem lại cùng nhau ở một luận chứng những quan tâm về ô nhiễm, dân số và tài nguyên, cho thấy cách nào cái gọi là tiến bộ sẽ chạy mau lẹ, đụng nhằm những trở ngại cứng rắn của thế giới thiên nhiên.
     Thành lập năm 1968 và tự đề cao là “ một dự án về tình trạng không hay của thế giới”, Câu Lạc Bộ Rome đặt ra cho mình sứ mệnh thu thập các trí óc phân tích tốt đẹp nhất thế giới,  để tìm cách “ làm ngừng lại trò chơi lao dốc tự sát con người đang lăn cưỡi ”. Điều này dẫn tới giáo sư MIT Jay Forrester, người đã phát triễn ra những kiểu mẩu computer về các hệ thống tòan cầu , tên gọi là World2, giúp tính tóan ảnh hưởng thay đổi của nhiều biến thiên cho tương lai hành tinh. Câu Lạc Bộ bổ nhiệm một tóan hai nhà khảo cứu khác là Donella Meadows và Dennis Meadows lảnh đạo, để tạo ra một dịch bản cập nhật World3 . Chính sản xuất của kiểu mẩu này đã được trình bày dưới hình thức sách The Limits of Growth. Ở một thời đại ngây thơ và tôn kính hơn đối với computers, tập in lạnh mát này cho luận cứ sách một bộ mặt uy quyền khoa học và thể nào cũng phải xảy ra; hàng trăm triệu mạch vòng vi tiểu lôgic tuồng như lưu đày mọi khả năng bất đồng ý kiến.
    Kiểu mẩu không đơn giản, không dễ hiểu biết đâu. Ngay cả đồ thị tóm tắt cũng quấn xoắn lại tê cóng trí nảo vào những đặc thù hòan tòan của kiểu mẩu, đăng năm sau, ở một sách riêng biệt dày 637 trang. Tuy nhiên, ý niệm tổng quát rất là thẳng thắn. Nhóm khảo cứu “ xét xem 5 thừa tố căn bản  qui định và như vậy cuối cùng giới hạn tăng trưởng ở hành tinh Trái Đất – dân số, sản xuất nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên , sản xuất công ( kỷ) nghệ  và ô nhiễm. Họ đã giả thiết tất yếu là mọi thừa tố này, tăng trưởng lũy thừa – grow exponentially , một bước tiến quan trọng đến nổi tòan thể chương I sách  dành  riêng cho giải thích vụ này.   Họ yêu cầu ai đọc sách lưu ý đến tăng trưởng cây rau muống- bèo - huệ nước- water lily ở một ao hồ: “Ví thử bạn có một ao hồ rau muống đang tăng trưởng. Kích thước  cây tăng gấp đôi mỗi ngày. Nếu cứ để cho cây  rau muống tăng trưởng không kiềm chế, nó sẽ bao phủ tòan ao hồ, trong 30 ngày, làm chết nghẹt những đời sống khác trong nước. Cây rau muống tuồng như bé nhỏ lâu dài, cho nên bạn quyết định cắt cụt nó đi,cho đến khi nó chiếm nữa ao hồ. Ngày nào nó đến giai đọan này ? Lẽ dĩ nhiên là ngày thứ 29 . Bạn còn một ngày để cứu vãn ao hồ.”
    Ở kịch bản tiêu chuẩn ( xem hình 1 ) các tác giả dự tính tương lai nào sẽ đóng vai trò quan trọng cho nhân lọai . Với các năm từ 2001 đến 2010 ở hòanh độ, đồ biểu trình bày ở tung độ những mức dân số, ô nhiễm, tài nguyên không tái sinh được, thực phẩm và sản xuất công nghệ. Khi tử xuất (chết) giảm xuống đáng kể ( vì hiểu biết y tế cải thiện )và sinh xuất chỉ giảm nhẹ, dân số gia tăng. Khi mỗi người tiêu thụ nhiều thực phẩm và sản phẩm hơn, muốn thỏa mãn yêu cầu tổng cọng, tất phải “ đòi hỏi một đường vào tài nguyên đồ sộ” . Điều này xài hết dự trữ tài nguyên có được, làm khó khăn thêm việc thỏa mãn các yêu cầu tài nguyên năm tới, và nhiên hậu dẫn tới sụp đổ hệ thống kinh tế. Vì lẽ các ảnh hưởng tụt lại phía sau, dân số tiếp tục tăng mãi cho đến tử xuất tăng sửng sốt do thiếu thực phẩm và săn sóc y tế giết chết một phần lớn mọi nền văn minh. Thủ phạm rỏ ràng là: “ sụp đổ xảy ra vì mất hút tài nguyên không tái sinh được.”
   Vậy chớ điều gì sẽ xảy ra, nếu thế giới gìn giữ được tốt đẹp hơn tài nguyên cũ và tìm ra được tài nguyên mới ? Khỏi cần lo đến điều này. Hãy cho chạy lại kiểu mẩu với  tài nguyên tăng gấp đôi hay vô giới hạn và sụp đổ vẫn xảy ra, nhưng bây giờ là do ô nhiễm. Khi dân số và sản xuất nổ tung, ô nhiễm cũng làm cho sản xuất thực phẩm sút giảm, giết chết ba phần tư dân số. Việc gì xảy ra, nếu kiềm chế được cả kỷ thuật lẫn chánh sách? Cũng khỏi cần lo đến điều này. Hãy chạy kiểu mẩu lần nữa với tài nguyên không giới hạn và bẻ cong bớt ô nhiễm đi, tiên đóan vẫn lạnh nhạt. Khi sản xuất tăng vụt, dân số cũng tăng theo và yêu cầu thực phẩm cũng tăng thêm. Cuối cùng đã đến giới hạn đất đai trồng trọt được và công nghệ cũng đói kém, vì tư bản đã được chuyễn sang những cố tâm càng yếu kém hơn hầu tăng gia năng xuất nông nghiệp. Với sản xuất thực phẩm rơi xuống mức chỉ vừa để sống – subsistence level, tử xuất tăng vọt mạnh và một lần nữa văn minh phải chịu số phận bi đát.
    Các tác giả kết luận rằng “ cách cư xử căn bản của hệ thống thế giới là tăng trưởng  dân số và tư bản lũy thừa , tiếp theo đó là sụp đổ”. Và “ khi chúng ta du nhập các phát triễn kỷ thuật đã thành công,tháo bỏ vài ngăn cản cho tăng trưởng hầu tránh vài sụp đổ, hệ thống đơn giản tăng đến một giới hạn khác, tạm thời vượt qua điểm này và thối lui trở lại.                       
     Khác với những tiên đóan bi thảm trước, tiên đóan này không còn đường ra dễ dàng nữa. Bà Carson đã muốn ngừng hẳn dùng thuốc dịch bệnh – pesticides. Ông Ehrlich muốn tăng trưởng dân số chậm đi. Nhưng The Limits of Growth muốn trình bày là ngay cả khi ô nhiễm và tăng trưởng dân số được kiểm sóat đi nữa, tài nguyên thế giới cũng sẽ bị tiêu xài hết va sản xuất thực phẩm sẽ lại rơi xuống mức chỉ vừa để sống. Hy vọng duy nhất là ngưng ngay tăng trưởng kinh tế . Thế giới cần cắt bớt tiêu thụ các hàng hóa vật chất và nhấn mạnh đến tái sinh và bền vững lâu dài. Hy vọng duy nhất tránh khỏi sụp đổ văn minh, theo biện cứ các tác giả, là xuyên qua những chánh sách hà khắc bó buộc dân gian có ít con hơn, cắt bớt tiêu thụ, ổn định xã hội ở một mức nghèo kém đáng kể hơn hiện tại.  
    Vì chưng nhiều người xem giải pháp này không thực tiễn tí nào, cách lấy đi từ tiệm đem về ăn rất đơn giản: thế giới đã bị vặn vít rồi. Cho nên câu chuyện đăng ở Thời báo Times năm 1972 về The Limits on Growth đặt đầu đề “   Tệ hại nhất Đã Xảy ra Chưa – The Worst is Yet to Be ? Báo viết:
               “ Các lò Pittsburgh đã nguội lạnh, các dàn ráp máy ở Detroit đã ngưng chạy . Ở Los Angeles, vài kẻ sống sót tiều tụy dịch hạch, cố tình cày cuốc vô vọng các hàng giữa xa lộ cao tốc, vườn sau và các đồng ruộng xa trung tâm, làm mùa chỉ vừa để sống . Các sở làm việc ở London tối om, các bến tàu vắng người. Ở các cánh đồng nông trang xứ Ukraine, các máy cày la liệt đầy đồng vì không còn nhiên liệu dùng chạy máy nữa. Nước các sông Rhine, Nile và Hoàng Hồ cào đầy chất ô nhiễm. Kỳ quái thật ? Không. Đó chỉ là điều thê thảm không tránh được nếu xã hội tiếp tục sự hiến dâng hiện hửu cho tăng trưởng và “ tiến bộ” .
             Sách The Limits to Growth đã được báo chí cực kỳ chú ý. Tạp chí Khoa Học – Sience đăng 5 trang về sách, Playboy ghi các đặc điểm sách rỏ ràng và tuần báo Life tự hỏi là có ai muốn nghe “sự thật khủng khiếp” không ? Các báo như The Economist và Newsweeks đồng ca theo cùng chỉ trích, nhưng năm 1973, cấm vận dầu lữa làm sách có vẽ như tiên tri. Với cú sốc dầu lữa và giá cả hàng hóa tăng vụt, tuồng như thế giới đang tiến tới kiểu tương lai Câu Lạc Bộ Rome !
 
                      
                       Tiếc Quá
 
    Sau 40 năm , cách nào các tiên đóan xếp chồng ? Các người bênh vực thích nhấn mạnh là The Limits of Growth cẩn thận rào lại các đánh cuộc của mình với các tác giả tuyên bố là họ không trình bày “ những tiên đóan chính xác” và họ “ cố tình … hơi mơ hồ” trên khung thời gian, vì họ muốn tụ điểm trên cư xử tổng quát của hệ thống, nhưng đó chỉ là ngụy biện. Sách thật sự đã được trình bày minh bạch và hiểu biết, làm ra những tiên đóan rỏ rệt, gồm luôn cả việc thế giới đang gần cạn kiệt nhiều tài nguyên không tái sinh được.
      Giả thiết là yêu cầu tăng lũy thừa, The Limits to Growth tính ra cách nào gần nhất sau năm 1970, nhiều tài nguyên sẽ khô cạn. Kết luận của họ là trước năm 2012, thế giới sẽ xài hết aluminium, đồng, vàng kim, chì, thủy ngân, molybdenum, khí dầu thiên nhiên , dầu lữa, bạc, thiếc, tungsten và kẻm; 12 trong số 19 chất họ để tâm đến. Họ đã sai lầm , đơn giản và ngọan mục
         Họ đặc biệt nói đến thủy ngân, tuyên bố là các dự trữ tòan cầu biết được năm 1970 sẽ chỉ kéo dài 13 năm nữa , do yêu cầu tăng trưởng lũy thừa gây ra hay chừng 41 năm nữa thôi, nếu các dự trữ thủy ngân kỳ diệu tăng lên gấp năm lần. Họ lưu ý là “ giá cả những tài nguyên này theo các dấu hiệu dự trữ im lìm ngắn nhất, đã bắt đầu tăng rồi”. Chẳn hạn, giá thủy ngân đã tăng lên 500 %, trong 20 năm qua. Tuy nhiên từ đó, các sáng kiến kỷ thuật đã đưa tới thay thủy ngân ở bình điện, trám lỗ răng sâu và các nhiệt kế. Năm 2000 tiêu thụ thủy ngân đã sụt mất 98%, và giá cả sụt 90 % .
     Họ tiên đóan là vàng kim cũng sẽ cạn kiệt vào năm 1979 và chắc chắn sẽ hết hẳn năm 1999 , căn cứ trên ước lượng 10 980 dự trữ biết được năm 1970. Tuy nhiên 40 năm sau – năm 1970, thế giới đã khai thác 81410 tấn vàng kim và nay ước lượng vàng dự trữ thế giới lên đến 51 000 tấn.
     Dự trữ đồng biết được năm 1970 là 280 triệu tấn. Từ năm đó, khoảng 400 triệu tấn đồng đã được sản xuất trên hòan vũ và dự trữ đồng thế giới nay ước lượng là 700 triệu tấn. Từ năm 1946, các dự trữ đồng mới đã được khám phá mau lẹ hơn là tiêu xài hết những dự trữ hiện hửu.  Ba kim lọai khác quan trọng nhất thế giới là nhom – aluminium , sắt và kẻm cũng có số phận tương tự. Dù mức tiêu thụ  nhom - aluminium đã tăng thêm 16 lần kể từ năm1950, và dù rằng sự kiện là thế giới đã xài 4 lần aluminium hơn dự trữ biết được năm 1950, nhưng nay dự trữ aluminium có thể cung cấp đến 177 năm mức tiêu thụ hiện nay. The Limits of Growth cũng lo ngại hết dầu lữa vào năm 1990 và khí dầu thiên nhiên vào năm 1992. Thế nhưng các tài nguyên vừa kể, không những không cạn kiệt mà các dự trữ chúng, tính theo số năm tiêu thụ hiện tại, ngày nay còn lớn hơn bao giờ hết kể từ năm 1970, dù rằng tiêu thụ đã tăng gấp bội
                
                 Những gì Câu Lạc Bộ Rome đã bỏ qua
 
      Điểm căn bản sách The Limits of Growth có vẽ là trực giác, ngay cả hiển nhiên: Nếu  mãi mãi nhiều người dùng nhiều hơn mãi mãi cái ngữ tài nguyên, ngày nào đó họ sẽ chạm trán những giới hạn lý học hành tinh. Vậy chớ tại sao các tác giả lại sai lầm đến thế ? Tại vì họ đã bỏ qua tài nhân lọai khéo léo phát minh.
       Các tác giả The Limits of Growth đưa ra 5 thúc đẩy cho hệ thống thế giới, nhưng họ lại quên mất một thúc đẩy quan trọng hơn hết : con người ( dân gian ) với khả năng khám phá và sáng chế. Nếu bạn nghĩ rằng chỉ có 280 triệu tấn đồng dưới đất, bạn sẽ nghĩ rằng bạn sẽ không còn may mắn nữa, một khi bạn đã đào lên hết số lượng đồng này. Nhưng nói về “ các dự trữ biết được” thế là quên mất đi nhiều phương cách tài nguyên có được có thể tăng gia.
       Chẳng hạn , thăm dò đã cải thiện. Mới đây vào năm 2007, Brasil  tìm ra bồn dầu lữa Sugar Loaf - Cục Đường Ăn  ngòai khơi bờ biển São Paulo, có thể chứa 40 tỉ thùng dầu . Nhắc lại là  lưu vực Cửu Long, bồn dầu lữa lớn nhất nước nhà hiện nay, chứa 30 % tổng số tài nguyên dầu khí nước nhà, ước lượng 7- 8 tỉ tương đương thùng dầu thô , nghĩa là chỉ 1/5 bồn Sugar Loaf , Brasil. Các kỷ thuật chiết trích, khai thác dầu cũng đã cải thiện. Ngành công nghệ dầu lữa nay khoan giếng sâu hơn dưới đất , xa ra ngòai khơi đến các đại dương và trên xa đến Bắc Cực.   Ngành khoan ngang - horizontal drills  và sử dụng nước và hơi nước để vắt thêm dầu ở nhũng giếng cho dầu hiện hửu.
     Và khí dầu diệp thạch – shale gas nay có thể giải tỏa bằng kỷ thuật mới mẽ  phân chia đứt gãy – new fracking technology, đã giúp tăng gấp đôi tài nguyên khí dầu thiên nhiên Hoa Kỳ trong vòng 6 năm qua. Đây là một kỷ thuật tương tự đột khởi kỷ thuật làm nổi hóa học- chemical flotation cho khai thác những mỏ quặng đồng, trước đây cứ tưởng là vô phương- vô dụng, và cũng tương tự tiến trình Haber- Bosch đã làm cho cố định nitrogen khả thi, sản xuất phân bón hóa học, nay giúp nuôi sống 1/3 nhân loại.
     Aluminium là một nguyên tố kim lọai thông thường nhất Địa Cầu. Nhưng mãi gần đây, trích chiết khai thác vô cùng khó khăn và tốn kém, khiến nó có phần đắt hơn vàng kim và bạch kim - platinum. Nã phá Luân Đệ Tam có những thanh aluminium trưng bày song song các châu báu vương miện Pháp và vua biếu các khách mời danh dự những nĩa và muổng ( thìa ) aluminium, trong khi các khách ít quí hơn chỉ nhận các vật dụng bằng vàng kim. Chỉ khi có sáng chế tiến trình Hall – Heroult  năm 1886, giá aluminium mới  bất ngờ rớt xuống và số lượng  alumimium to lớn xuất hiện.
 Tuy nhiên, tài khéo léo sáng chế thường chỉ xảy ra ở những phương cách ít ngọan mục hơn, tạo ra những cải thiện từng nấc – incremental improvements ở những phương pháp đương thời, giúp giảm bớt phí tổn và tăng gia hiệu xuất.       
    Những điều vừa kể, không có nghĩa là Trái Đất và tài nguyên Trái Đất không phải là không hửu hạn đâu nhé !  Nhưng nó ngụ ý là số lượng tài nguyên cuối cùng có thể tạo ra nhờ tài khéo léo nhân lọai giúp đở, vượt xa hẳn những gì tiêu thụ con người đòi hỏi. Điều này cũng đúng cho năng lượng, nhiều người cho rằng đã đạt đỉnh. Chẳng hạn bỏ ra ngòai phí tổn, chính Tầng Lớp Sông Xanh -Green River Formation miền Tây Hoa Kỳ đã được ước lượng chứa 800 tỉ thùng dầu diệp thạch có thể thu về ba lần nhiều hơn dự trữ dầu chứng minh của Saudi Arabia. Và ngay với những kỷ thuật hiện hửu, số năng lượng tòan thể thế giới tiêu thụ ngày nay, có thể tạo ra bằng các pannen mặt trời bao phủ chỉ có 2.6 %   diện tích sa mạc Sahara.
    Lo ngại về tài nguyên không phải là mới mẽ gì. Năm 1965 , nhà kinh tế học William Stanley Jevons viết một sách nguyền rủa than đá dùng ở Vương Quốc Anh. Ông nhận thấy cuộc Cách Mạng Công Nghệ không ngừng tăng gia yêu cầu than đá, xài hết không tránh nổi mọi dự trữ than đá nước Anh và cuối cùng sẽ làm Anh Quốc sụp đổ :   “ Sẽ không còn viễn cảnh hợp lý nào để giải tỏa từ thèm muốn tương lai cho tác nhân chánh ( than đá ) ngành công nghệ. Năm 1908, chính Andrew Carnegie cũng than phiền: “ tôi đã bị ấn tượng nhiều năm qua vì tiêu xài kiên cố mất hết nguồn cung cấp quặng sắt của chúng ta. Thật đáng làm chóang váng đầu khi biết là nguồn cung cấp quặng giàu sắt trước đây cho là phong phú không thể tồn tại lâu hơn thế hệ đang tới, chỉ còn quặng nghề  ít sắt hơn cho đến những năm cuối cùng thế kỷ.” Lẽ dĩ nhiên , thế hệ Carnegie đã để lại đàng sau kỷ thuật tốt đẹp hơn, cho nên ngày nay khai thác các quặng chứa ít sắt, khó đến nơi hơn, cũng dễ dàng, rẽ tiền hơn.
     Một cách khác xem xét vấn đề tài nguyên là quan sát gía cả các vật liệu thô. Phe The Limits of Growth biện cứ rằng khi các cản trở tài nguyên trở nên khít khao hơn, giá cả chúng sẽ tăng. Các nhà kinh tế học dòng chánh, trái lại, thường tin cậy là tài khéo léo con người sẽ thắng cuộc và giá cả sẽ sụt đi. Một cá cuộc giữa hai phe đã xảy ra năm 1980. Nhà kinh tế học Julian Simon, phiền nảo vì những tuyên bố không ngừng là hành tinh sẽ xài mất hết dầu lữa, thực phẩm và vật liệu thô, đã cống hiến cá cuộc 10 000 đô la Mỹ cho bất cứ vật liệu thô nào các đối nghịch lựa chọn, sẽ có giá cả trụt xuống theo thời gian.  Cá cuộc Simon được nhà sinh học Ehrlich và các nhà vật lý học John Harte và John Holdren ( hiện nay là cố vấn khoa học cho tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama ) , nói rằng “ hút dẫn của tiền bạc dễ dàng là không chống lại được”   Cả ba đặt cọc trên chromium, đồng, nickel , thiếc và tungsten và họ lấy thời gian là 10 năm. .Khi đến hạn kỳ 10 năm, giá cả cả 5 hàng hóa này đã trụt xuống và họ đã phải chấp nhận thất bại ( dù rằng họ vẫn tiếp tục giữ kỷ biện cứ nguyên thủy ). Và đó không phải là một sự may mắn : giá cả các hàng hóa thương đã trụt xuống ở thế kỷ và nữa thế kỷ trước. ( xem hình 2 đính kèm )
    Tóm lại, các tác giả The Limits of Growth đã sai lầm lớn nhất ở thừa tố tài nguyên, sai lầm ngọan mục đó ! Các đồ thị của họ cho thấy các mức tài nguyên khởi sự cao và trụt xuống, nhưng tình trạng lại đối nghịch hẳn: chúng khởi sự thấp và tăng lên . Các dự trữ kẻm, đồng, bô xít ( quặng nhom chánh), dầu lữa, và sắt thảy đều cao lên ngoạn mục. ( hình 3 ).
 
                 Nhiều hơn, nhiều hơn, nhiều hơn
 
            Còn những thừa số khác của phân tích ra sao ? Sụp đổ to lớn của chúng cũng được tiên đóan xảy ra sau năm 2010, cho nên có lẽ còn quá sớm để có thể hòan tòan bóp méo. Nhưng những khuynh hướng cho đến nay, không còn tí gì hổ trợ luận đề ảm đảm – diệt vong nữa . Tăng trưởng sản xuất công nghệ mỗi đầu người cho đến nay hơi bị The Limits of Growth ước tính quá đáng một tí, có lẽ vì tài nguyên đã rẽ hơn thay vì đắt hơn và sản xuất càng ngày di chuyễn vào ngành công nghệ dịch vụ. Nhưng các tiên đóan dòng chánh cho tăng trưởng GDP dài hạn, một kẻ ủy nhiệm có vẽ hợp lý đã là dương tính mắt thường nhìn thấy được, tương phản rỏ rệt những gì The Limits of Growth mong đợi. Chẳng hạn, Ủy ban Liên Chánh phủ về Thay đổi Khí hậu, nhóm chánh duy nhất đã đặt ra các kịch bản GDP thông báo đến năm 2010 , ước lượng là GDP mỗi đầu người tòan cầu sẽ tăng 14 lần trong thế kỷ và 24 lần ở các quốc gia chậm tiến.
        Số lượng tăng dân số cũng bị ước lượng phần nào quá đáng, chánh yếu là do tiên tiến y khoa đã giảm bớt tử xuất mau lẹ hơn chúng ta tưởng ( dù rằng có khủng hỏang không liệu trước HIV/AIDS ). Nhưng sác xuất tăng gia dân số đã chậm lại, kể từ cuối thập niên 1960, khác với các tiên đóan World3, vì sinh xuất cũng đã rơi xuống song song với phát triễn. Và tiên đóan cho hai thừa tố cuối cùng, sản xuất nông nghiệp và ô nhiễm còn xa vời, và điều này quan trọng, vì lẽ chúng là những thúc đẩy hổ trợ sụp đổ , nếu khan hiếm tài nguyên không làm được nhiệm vụ. Tiêu thụ thực phẩm tòan cầu mỗi đầu người mong đợi sẽ tăng trên 50% vào 4 thập niên sau 1970 , đạt đỉnh năm 2010, rồi trụt xuống 70 %. Số calôri có được đã thật sự tăng gia, nếu không quá đáng kỳ lạ ( chừng hơn 25 % ) , nhưng sụp đổ nguồn cung cấp thực phẩm không thấy bóng dáng xảy ra bất cứ nơi nào  và chúng ta có mọi lý do để tin tưởng là  lợi lộc sẽ tiếp tục và sẽ vững bền. Thiếu dinh dưỡng chưa tiêu tan, và con số người tuyệt đối đói khát, thật sự đã tăng gia đôi chút ( phần lớn vì vài mùa màng đã bị chuyễn từ thực phẩm qua sản xuất nhiên liệu sinh học, vì những lo ngại về hâm nóng địa cầu). Nhưng 40 năm qua, phân số dân số tòan cầu còn ăn uống thiếu dinh dưỡng đã rơi xuống từ 35 %  chỉ còn ít hơn 16% và nay đã có thêm hơn 2 tỉ người được nuôi ăn uống đầy đủ. Không có nơi nào trên thế giới đã đụng trần nhà về sử dụng đất đai trồng trọt được; hiện nay có 3.7 tỉ mẩu Anh ( mẩu anh - acre gần bằng ½ ha ) đang được sử dụng và 6.7 tỉ mẩu Anh là dự trữ. Cũng như lợi lộc năng xuất ( hiệu năng ) chưa tới tối đại.  Báo cáo dài hạn Liên Hiệp Quốc về   thực phẩm có được, từ năm 2006, ước lượng là thế giới sẽ đủ khả năng nuôi sống nhiều người hơn nữa, mỗi người nhiều calôri hơn, cho đến giữa thế kỷ 21
      Về các tiên đóan ô nhiễm, The Limits of Growth vừa dễ sợ vừa mơ hồ. Tăng ô nhiễm được giả thiết là kích động đổ sụp tòan cầu, nếu gia giảm thực phẩm hay tài nguyên chưa làm điều này trước tiên, nhưng cách nào ô nhiễm được định nghĩa chính xác thì không rỏ rệt gì cả. Các ô nhiễm cá nhân tỉ như DDT, chì, thủy ngân và thuốc dich bệnh : trừ sâu bệnh, cỏ dại -  pesticides được nói tới, nhưng cách nào chúng có thể giết một số người đáng kể lại không được cụ thể, làm khó thử nghiệm xem tiên đóan có đúng không. Ô nhiễm không khí có thể được xem là một kẻ ủy nhiệm tốt cho ô nhiễm tòan thể, vì nó là kẻ sát nhân môi sinh lớn nhất ở thế kỷ thứ 20 và từ khi EPA ước tính là điều hòa của EPA đã làm ra 86-96% mọi lợi ích xã hội,  từ điều hòa môi sinh tổng quát hơn . Tại các nước chậm tiến- đang mở mang , ô nhiễm không khí ngòai trời đúng là đã tăng thêm và giết chết nhiều hơn, có lẽ trên 650 000 người mỗi năm. Ô nhiễm trong nhà ( vì dùng nhiên liệu dơ bẩn để nấu nướng và sưởi ấm ), giết người còn nhiều hơn nữa, gần 2 triệu mỗi năm ( tuy rằng con số nay có giảm chút ít).
    Ngay cả ở tại các nước đã mở mang, ô nhiễm không khí ngòai trời vẫn còn là kẻ sát nhân môi trường lớn nhất (ít nhất là 250 000 mỗi năm ) , dù rằng các điều hòa môi trường đã giảm số người chết đáng kinh ngạc,  nữa thế kỷ vừa qua. Ô nhiễm không khí trong nhà ở thế giới đã mở mang hầu như không giết ai cả. Trong khi Câu Lạc Bộ Rome đã tưởng tượng một quá khứ thần tiên không ô nhiễm, các nông dân sung sướng và một thế giới tương lai nghẹt thở vì hơi khói và độc tố, do công nghệ hóa chạy lồng điên cuồng, nhưng thực tế lại khác hẳn. Thế kỷ qua, ô nhiễm không xoắn ốc ngòai vòng kiểm sóat hay trở nên giết người hơn nữa, và hiểm nguy chếc chóc vì không khí ô nhiễm được tiên đóan là sẽ tiếp tục rơi xuống ( xem hình ).
 
                       
                      Ai lưu tâm đây ?                       
  
                 Thế cho nên dự án The Limits of Growth sai lầm ngọan mục trong ba thúc đẩy chánh và sai lầm khiêm tốn ở hai thúc đẩy khác. Thế giới không mất hút hết tài nguyên, không mất  tiêu hết thực phẩm, không nghẹt cổ vì ô nhiễm và dân số thế giới , sản xuất công nghệ đang lên cao một cách vững bền. Vậy thì sao ? Tại sao ai đó nay lại phải lưu tâm ? Vì phân tích dự án chìm sâu vào ý thức dân gian và thượng lưu và giúp tạo hình cách nào dân gian suy tư về một lọat vấn đề chánh sách ngày nay.
              Hãy lấy trường hợp tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Hãy hỏi ai đó ngày nay xem anh ta có lưu tâm về môi trường không và anh đã làm gì về chuyện này. Bạn sẽ nghe anh ta trả lời như sau : “lẽ dĩ nhiên là tôi lưu tâm; tôi đã làm tái sinh”. Phần lưu tâm rất tốt cho thay đổi tích cực – dương tính từ vài thập niên qua. Nhưng phần tái sinh chỉ là một cử chỉ làm an tâm, đóng góp rất ít cho lợi lộc môi trường, ở phí tổn đáng kể.
         Tái sinh không phải là một ý kiến mới mẽ gì. Nó có nghĩa lý cho các công ty và dân gian đã làm tái sinh các hàng hóa qúi báu lâu ngày  trước khi dự án The Limits of Growth chào đời. Chẳng hạn, đồng đã được tái sinh theo sác xuất 45 % suốt thế kỷ vừa qua, vì nhũng lý do thuần túy thực tiễn, không phải lý do môi trường. Tại sao sác xuất lại không cao hơn ? Tại vì vài người dùng đồng theo những bó lớn và dễ dàng tái chế biến hơn cố gắng làm tái sinh có giá trị, trong khi vài người khác dùng đồng phân tán theo những mảnh nhỏ khó gom góp , làm cho tái sinh không hửu hiệu.
        Ngày nay khi dân gian nhĩ tới tái sinh họ thường nghĩ đến giấy - paper. Điều này cũng không phải là một ý kiến mới. Rác đã là một tài nguyên từ hàng thế kỷ rồi, với phân hạng chúng và tái chế biến tùy theo giá cả thị trường đương thời của các lọai hàng hóa. Suốt thế kỷ vừa qua, khỏang 30- 50 % mọi lọai giấy đã được tái sinh, trước khi  xảy ra các chiến dịch thông tin công cộng hay duới áp lực các kẻ chức vị. Nhưng nay, theo vết chân của những kẻ than óan như The Limits of Growth, tái sinh có khuynh hướng được xem là nhỏ bé hơn là một vấn đề kinh tế , mà là một vấn đề cá nhân hay đạo đức công dân.  Con em học hỏi nên “ giảm thiểu, tái dụng và tái sinh” như thể là một phần giáo dục tinh thần luân lý chánh thức. Chúng được dạy phải làm như vậy, chúng sẽ “ cứu vớt cây cối”. Nhưng thực tế là là những rừng cây xử lý tốt đẹp cho sản xuất giấy như ở Phần Lan – Finland hay Thụy Điển- Sweden được liên tục trồng lại, sản xuất không phải ít mà nhiều cây hơn. Khuyến khích nhân tạo tái sinh giấy  hạ bớt tiền thanh tóan cho những rừng này, sẽ  dùng chuyễn hóa qua đất trồng trọt hay xây dựng đô thị. Tái sinh giấy không cứu vớt các rừng già – rừng mưa nhiệt đới, vì giấy không dùng gỗ cây rừng nhiệt đới. Tái sinh giấy cũng không giải quyết vấn đề phế thải thành phố: đốt ra tro có thể cướp giựt lại phần lớn năng lượng từ giấy đã sử dụng, gần như không có tí nào các vấn đề rác phế thải. Ngay cả khi không đốt ra tro, tòan thể rác  mọi thành phố Hoa Kỳ  cả thế kỷ 21, có thế chứa trong một đống rác vuông vức dài mỗi cạnh 18 dặm Anh ( gần 29 km) và cao 30m.
       Tuy nhiên, cố gắng tái sinh chất liệu tỉ như giấy và gương – glass tiêu thụ tiền của và nhân lực là những tài nguyên hiếm có, có cơ tiêu xài cho các cố gắng khác có giá trị xã hội, tỉ như xây cất đường xá và tuyễn nhân viên chuyên môn bệnh viện.  Cho nên khi gía cả giấy suy thóai và giá trị công việc lao động tăng gia đáng kể , ngày nay chúng ta nạp cống phẩm cho thần dị giáo của biểu tượng chủ nghĩa môi sinh bằng cách dùng vô số giờ để lựa chọn, tồn trữ và thu thập giấy đã dùng. Mà khi phối hợp cùng các trợ cấp chánh phủ sản xuất ra một lọai giấy phẩm gía có phần kém hơn, hầu bảo đảm một tài nguyên thật sự không bao giờ bị đe dọa cả.
           Cái gì đúng về tái nguyên, hơn nữa, cũng đúng cho hai thúc đẩy giả thiết làm sụp đổ khác là dân số và ô nhiễm. Thúc cựa bằng các phân tích như những trình bày ở The Limits of Growth , những năm qua, rất nhiều thì giờ và cố gắng đã chuyễn đi từ những họat động ích lợi qua những họat động đáng nghi ngờ và có khi nguy hại nữa. Chẳng hạn, bóng ma của một dân số luôn luôn tăng thêm, nhai gặm hết tài nguyên luôn luôn giảm bớt giúp làm dân gian hỏang sợ, tạo ra những phản ứng khắc nghiệt tỉ như chánh sách chỉ một con- one child ở Trung Quốc và thiến họan – sterilizations bắt buộc ở Ấn Độ. Những hành động này không được chứng minh và các chánh sách khác có thể giúp hành động tốt hơn, phí tổn thấp hơn với những thành quả ưa thích hơn. Chẳng hạn, giáo dục tăng thêm cho đàn bà, giảm bớt nghèo khổ, và bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao hơn, có cơ làm giảm kích thước gia đình có nhiều lợi lộc phụ thuộc hơn.
       Trong lúc đó các kịch bản ghê rỡn các chất ô nhiễm như DDT và thuốc dịch bệnh pesticides giết chết nhân lọai, đã đưa tới những cố tâm cấm dùng chúng và làm lan rộng tăng trưởng phong trào thực phẩm hửu cơ – organic food. Và dù đúng khi sử dụng, những sản phẩm nay có phí tổn - ở nồng lượng lớn DDT có hại cho chim chóc, ngay cả những chất dịch bệnh điều hòa tốt, cũng gây ra ở Hoa Kỳ mỗi năm 20 người chết- cũng làm ra lợi lộc đáng kể. DDT là thuốc rẽ nhất, một phương cách hửu hiệu nhất chống trả bệnh sốt rét. Cấm dùng DDT ở đa số các nước đã mở mang ( dù tự mình rất hửu lý ) đã đưa tới những áp lực từ các tổ chức không chánh phủ và các tổ chức viện trợ để cấm dùng nó khắp mọi nơi  khác; những chiến dịch này  nay đã được Cơ Quan Y tế Quốc tế -WHO bải bỏ, tuồng như đã góp phần giết chết không cần thiết nhiều triệu nhân mạng.
          Ở các nước đã mở mang, thúc đẩy đào thải các thuốc dịch bệnh đã quên mất nhũng lợi lộc đồ sộ của chúng. Đi vào hòan tòan hửu cơ, sẽ gia tăng phí tổn sản xuất nông nghiệp ở Hoa Kỳ, mỗi năm hơn 100 triệu đô la Mỹ. Vì chưng trồng trọt hửu cơ hủu hiệu  thấp hơn ít nhất là 16%, duy trì một sản lượng tương đương cũ, sẽ đòi hỏi tăng thêm đất trồng trọt 12 triệu ha, một diện tích lớn hơn diện tích trồng trọt bang California. Vì chưng ăn trái cây và rau đậu giúp giảm thiểu ung thư, và vì trồng trọt hửu cơ sẽ dẫn đến giá cả cao hơn, làm tiêu thụ giảm bớt, chuyễn hướng qua hửu cơ duy nhất, sẽ gây ra thêm hàng chục ngàn chết chóc vì ung thư.
          Trả thêm hơn 100 tỉ, tăng thêm đồ sộ diện tích trồng trọt Hoa Kỳ, và giết chết hàng chục ngàn dân gian có vẽ là một lợi lộc thấp kém để né tránh vài tá  dân Hoa Kỳ chết vì thuốc dịch bệnh mỗi năm. Nhưng đó là phương cách dự án The Limits of Growth và các cố gắng tương tự đã dạy cho thế giới suy tư , làm dân gian lo âu khinh xuất về các vấn đề biên tế, trong khi quên bẳng các hành động biết phải trái để giải quyết những vấn đề chánh yếu.
            
                 Làm điều phải , thực tế
 
            Di sản đáng ngờ của sách the Limits of Growth không chỉ là tái sinh không cần thiết giấy hay mờ mắt với sản phẩm hửu cơ. Tổng quát hơn sách và những sách bắt chước truyền bá những kịch bản tai họa môi sinh tệ hại nhất , khiến việc làm chánh sách hợp đạo lý khó khăn.   Gieo rắc sợ hải tạo ra nhiều chú ý , nhưng ít khi dẫn đến những giải pháp thông minh cho các vấn đề thực sự, một cái gì đòi hỏi xem xét bình tĩnh phí tỗn và lợi lộc của nhiều lối hành động. Bằng cách bao hàm các vấn đề thế giới đối đầu quá lớn, quá khẩn cấp chỉ có cơ giải quyết duy nhất bằng những can thiệp và hy sinh khối lượng tức thời, trên phương diện chánh trị thường bất khả thi và như vậy không bao giờ thực hiện, gieo rắc sợ hải về môi sinh giẫm nát bàn luận trên những can thiệp thực tế hơn, có thể làm ra khác biệt.
          Một duyệt xét nguyên thủy sâu sắc nhất của The Limits of Growth theo nhà kinh tế học Carl Kaysen khéo léo dùng đầu đề : “Máy Computer In ra W.O. L.F. – Chó Sói” . Sau khi tàn nhẫn trích ra riêng rẽ các khiếm khuyết ở biện cứ trong sách, Kaysen lưu ý là ngụ ngôn chú bé la làng “ chó sói” “ cuối cùng là chó sói thật sự”, y hệt  “ ở thế giới ngày nay, có những vấn đề thực sự và khó khăn theo chân phát triễn kinh tế , như chúng ta được biết.” Thách thức phân biệt giữa các báo động giả dối và các báo động thực sự ; thứ đến là đặt ra những cố gắng thận trọng khi xử lý hiểm nguy.
         Hãy nói đến ô nhiễm.   Nhờ những công trình như “ Silent Spring - Mùa Xuân Im lặng ”  và “ Những Giới hạn cho Tăng trưởng- The Limits of Growth , lo âu về thuốc dịch bệnh  đã chụp giựt rất nhiều tranh cải sớm về môi sinh và độc quyền lịch trình chánh sách EPA trong thập niên 1970. Tiếc thay, điều này không giải quyết vụ chó sói thực sự là ô nhiễm không khí ngòai trời và trong nhà. Ô nhiễm không khí ngòai trời có thể giết chết chừng 135 000 dân Hoa Kỳ mỗi năm, 4 lần hơn số người chết tai nạn giao thông . Nhưng vì không có những kẻ ủng hộ lừng danh và ít ai ưa thích, nó là một chó sói quên bẳng, cũng như ô nhiễm trong nhà đã giết chừng 2 triệu nhân mạng mỗi năm ở các nước chậm tiến, đang mở mang .           
 .           Nhưng Câu lạc Bộ Rome không chỉ làm xao lãng chú ý thế giới. Nó đã hướng  chú ý về hướng sai lầm, xác định tăng trưởng kinh tế là vấn đề cốt lõi của nhân lọai.   Các chẩn đóan này chỉ thích nghi cho các cư dân giàu có, sống thỏai mái của những quốc gia đã mở mang cao độ, đã có đủ và dễ dàng những tiện nghi căn bản đời sống . Tương phản lại, khi một đàn bà nghèo khổ vô vọng ở thế giới chậm tiến không đủ sức mua thực phẩm cho gia đình , lý do không phải là thê” giới không sản xuất thực phẩm mà là bà ta không đủ sức mua.  Khi các con bà đau ốm vì hít thở các làn khói hơi, đốt phẩn chuồng khô- dung, giải pháp không phải là bà phải dùng phẩn khô được chứng nhận hợp môi sinh, mà là nâng cao đời sống tiêu chuẩn của bà, đủ để mua các nhiên liệu sạch hơn và thuận tiện hơn. Tóm lại , nghèo khổ   là sát nhân lớn nhất và tăng trửng kinh tế là một trong những phương cách tốt đẹp nhất để ngăn ngừa nghèo khổ. Những bệnh tật chửa được dễ dàng vẫn còn giết chết chừng 15 triệu người mỗi năm. Cái gì sẽ cứu vớt họ là tạo dựng những xã hội giàu có hơn cỏ thể đủ sức chửa trị, điều nghiên và ngăn ngừa các đột phát mới.
     Khi khuyến cáo thế giới giới hạn phát triễn để chặt đứt sụp đổ giả thiết tương lai, The Limit of Growth dẫn dân gian đến đặt vấn đề cho giá trị đeo đuổi tăng trưởng kinh tế .  Nếu như các gợi ý  của dự án được nghe theo mấy chục năm nay,  chắc sẽ không bao giờ có “ những tiến bước của phần thế giới còn lại”, không có nữa tỉ dân Tàu, dân Ấn các nước khác tiến ra khỏi vùng nghèo khổ chà nát thân xác, không có cải thiện đồ sộ về y tế , tuổi thọ,đời sống phảm giá cho hàng tỉ người trên hành tinh này. Ngay cả khi trường phái tổng quát suy tư của Câu Lạc Bộ Rome  may mắn đi theo phương cách của những di tích thời thập niên 1970 , tỉ như các vòng tình huống – mood ringsđá ưa thích- pet rocks , ảnh hưởng nó vẫn lẫn quất trong ý thức dân gian và thượng lưu, Dân gian kich động nhiều hơn về số phận của Kyoto Protocol hơn là số phận của Thảo luận vòng tròn Doha Round , dù cho nới rộng thương mãi  sẽ là trăm lần hay ngàn lần tốt hơn  là giới hạn thấp bé của phát thải và làm ra rẽ , mau lẹ , hửu hiệu hơn cho những kẻ dễ tổn thương hơn. Đã qua rồi chăng thời gian nhìn nhận là tăng trưởng kinh tế, dù còn thiếu một từ đẹp hơn, thật sự rất tốt và đó là cái gì thế giới cần thêm, không phải giảm đi.                  
  
( Irvine, Nam Ca Li – Hoa Kỳ, ngày 12 tháng 7 năm 2012 )    
Thử tìm đường lối “mới” phát triễn xa hơn ý niệm xuất khẩu “ hàng hóa” cho Việt Nam ? Bài học:
 
                      
Cảnh báo Môi trường vô căn cứ ngày trước và ngày nay
G S Tôn Thất Trình
 
              Hay là Vấn đề Câu Lạc Bộ La Mã – Club of Rome và Những Vấn đề của Chúng ta , theo bài xã luận của G S Bjorn Lomborg, Phó giáo sư Trường Doanh vụ Copenhagen và Trung tâm Nhất trí Copenhagen, Đan Mạch, tác giả các sách Kẻ Môi sinh Hòai nghi – The Skeptical EnvironmentalistLàm nguội đi – Cool it, đăng tải ở số tháng 7- 8 năm 2012, nguyệt san Ngọai Giao - Foreign Affairs . G S Bjorn Lomborg cuối tháng 6 năm 2012 cũng đã bênh vực dự án phát triễn công nghệ và đô thị ở đầm lầy Nakivubo Swamp tại thủ đô Kampala xứ Uganda, trái với nhà kinh tế học Hòa Lan Pavan Sukhdey ở nghiên cứu “ The Economics of Ecosystems and Biodiversity” viết cho Liên Hiệp Quốc. Lomborg cũng không đồng quan điểm với nhà kinh tế học đọat giải Nobel kinh tế Joseph Stiglitz , muốn đi xa hơn GDP trên việc đo lường sức khỏe đời sống quốc gia , bằng cách tính thêm vào GDP giá trị của việc tồn trữ nước , kỳ cọ không khí và bảo vệ bờ biển nhờ cây cối, đất đai và các rặng san hô. ( nhắc lại là Stiglitz và bà vợ ông cũng đã cố vấn và dạy kinh tế học ở Đại học Hà Nội trước đây, hổ trợ mạnh mẽ cho nhà kinh tế học luôn luôn được trích dẫn về kinh tế Việt Nam là Lê Đăng Doanh ).      
             Cách đây 40 năm, nhân lọai được cảnh báo: đuổi theo tăng trưởng kinh tế không ngừng, mỗi ngày mỗi lớn hơn, sẽ là kết tội mình tiến tới tai họa. Câu lạc bộ Rome,  một thu thập đa quốc gia các doanh nhân, học giả, chức quyền chánh phủ vinh dự nhất tài phiệt Ý Aurelio Peccei gom nhặt, làm ra một trường hợp tiên đóan ở một cuốn sách mỏng năm 1972 tên gọi là “Những Giới Hạn Cho Tăng Trưởng - The Limits to Growth’. Căn cứ trên những dự báo những lọat kiểu mẩu computer phức tạp, do các giáo sư MIT phát triễn, sách đã gây ra một xúc động và chụp bắt được một tinh thần thời đại – zeitgeist lúc đó: tin tưởng là những thèm muốn dâng cao thêm của nhân lọai là một cuộc chạy bộ đưa đến đụng độ với các tài nguyên thế giới có giới hạn và  sẽ tan vỡ , sụp đổ, phá sản nay mai.           
                    Những Giới hạn cho Tăng Trưởng cũng không phải là sách xuất bản đầu tiên hay cuối cùng tuyên bố điểm tận thế- chấm dứt đã đến gần, vì cơn bệnh do phát triễn cận đại gây ra, nhưng trên nhiều phương diện, sách rất mực thành công. Tuy ngày nay, sách hầu như bị quên lảng, nhưng vào thời kỳ đó , sách là một hiện tượng khối to lớn, bán ra 12 triệu cuốn, dịch ra trên 30 thứ tiếng và được Thời báo The New York Times mệnh danh là một trong những tài liệu  quan trọng nhất thời đại chúng ta. Ngay cả khi được chứng tỏ là một sách đầu óc sai lạc phi thường, nó cũng đã thiết lập các điều khỏan cho một tranh luận những vấn đề khẩn thiết kinh tế, xã hội và đặc biệt là chánh sách môi sinh, cùng với những ảnh hưởng hiểm độc dính liền vào ý thức công cọng 40 năm sau. Không phải là phóng đại qúa đáng khi nói rằng sách này đã giúp thế giới rơi xuống con đường lo âu ,  bị ám ảnh về những giải pháp cứu chửa lạc hướng cho các vấn đề thứ yếu , trong khi lại quên hết những quan tâm lớn hơn nhiều và những phương cách dễ cảm giải quyết chúng .
 
                  Kịch trình diễn thập niên 1970  
 
      Nếu thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 đã là một thời kỳ lạc quan kỷ thuật, đến đầu thập niên 1970, tâm trạng ở các nước công nghệ tiên tiến đã bắt đầu trở nên dễ sợ. Chiến Tranh Việt Nam là một tai họa, các xã hội xáo động, các nền kinh tế khởi sự trì trệ. Sách Mùa Xuân Im lặng- The Silent Spring, năm 1962 của Rachel Carson (chúng tôi thường nêu lên ở giảng đường Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc – Sài Gòn các thập niên 1960- 70  vài quan điểm cuả Carson liên quan đến cận đại hóa nông nghiệp) đã tăng quan tâm về ô nhiễm và làm nẩy lữa phong trào môi sinh cận đại. Sách Quả Bom Dân số- The Population Bomb , năm 1968,của Paul Ehrlich đã biện cứ là nhân lọai đã tự mình rơi vào quên lãng. Ngày Trái đất - Earth Day đầu tiên, năm 1970, được đánh dấu bằng bi quan về tương lai và cuối năm đó, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon thiết lập Cơ Quan Bảo vệ Môi sinh – Environmental Protection, EPA   để giải quyết vấn đề. Đó là tình huống làm sách Những Giới hạn của Tăng Trưởng rền vang. Thiên tài sách là đem lại cùng nhau ở một luận chứng những quan tâm về ô nhiễm, dân số và tài nguyên, cho thấy cách nào cái gọi là tiến bộ sẽ chạy mau lẹ, đụng nhằm những trở ngại cứng rắn của thế giới thiên nhiên.
     Thành lập năm 1968 và tự đề cao là “ một dự án về tình trạng không hay của thế giới”, Câu Lạc Bộ Rome đặt ra cho mình sứ mệnh thu thập các trí óc phân tích tốt đẹp nhất thế giới,  để tìm cách “ làm ngừng lại trò chơi lao dốc tự sát con người đang lăn cưỡi ”. Điều này dẫn tới giáo sư MIT Jay Forrester, người đã phát triễn ra những kiểu mẩu computer về các hệ thống tòan cầu , tên gọi là World2, giúp tính tóan ảnh hưởng thay đổi của nhiều biến thiên cho tương lai hành tinh. Câu Lạc Bộ bổ nhiệm một tóan hai nhà khảo cứu khác là Donella Meadows và Dennis Meadows lảnh đạo, để tạo ra một dịch bản cập nhật World3 . Chính sản xuất của kiểu mẩu này đã được trình bày dưới hình thức sách The Limits of Growth. Ở một thời đại ngây thơ và tôn kính hơn đối với computers, tập in lạnh mát này cho luận cứ sách một bộ mặt uy quyền khoa học và thể nào cũng phải xảy ra; hàng trăm triệu mạch vòng vi tiểu lôgic tuồng như lưu đày mọi khả năng bất đồng ý kiến.
    Kiểu mẩu không đơn giản, không dễ hiểu biết đâu. Ngay cả đồ thị tóm tắt cũng quấn xoắn lại tê cóng trí nảo vào những đặc thù hòan tòan của kiểu mẩu, đăng năm sau, ở một sách riêng biệt dày 637 trang. Tuy nhiên, ý niệm tổng quát rất là thẳng thắn. Nhóm khảo cứu “ xét xem 5 thừa tố căn bản  qui định và như vậy cuối cùng giới hạn tăng trưởng ở hành tinh Trái Đất – dân số, sản xuất nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên , sản xuất công ( kỷ) nghệ  và ô nhiễm. Họ đã giả thiết tất yếu là mọi thừa tố này, tăng trưởng lũy thừa – grow exponentially , một bước tiến quan trọng đến nổi tòan thể chương I sách  dành  riêng cho giải thích vụ này.   Họ yêu cầu ai đọc sách lưu ý đến tăng trưởng cây rau muống- bèo - huệ nước- water lily ở một ao hồ: “Ví thử bạn có một ao hồ rau muống đang tăng trưởng. Kích thước  cây tăng gấp đôi mỗi ngày. Nếu cứ để cho cây  rau muống tăng trưởng không kiềm chế, nó sẽ bao phủ tòan ao hồ, trong 30 ngày, làm chết nghẹt những đời sống khác trong nước. Cây rau muống tuồng như bé nhỏ lâu dài, cho nên bạn quyết định cắt cụt nó đi,cho đến khi nó chiếm nữa ao hồ. Ngày nào nó đến giai đọan này ? Lẽ dĩ nhiên là ngày thứ 29 . Bạn còn một ngày để cứu vãn ao hồ.”
    Ở kịch bản tiêu chuẩn ( xem hình 1 ) các tác giả dự tính tương lai nào sẽ đóng vai trò quan trọng cho nhân lọai . Với các năm từ 2001 đến 2010 ở hòanh độ, đồ biểu trình bày ở tung độ những mức dân số, ô nhiễm, tài nguyên không tái sinh được, thực phẩm và sản xuất công nghệ. Khi tử xuất (chết) giảm xuống đáng kể ( vì hiểu biết y tế cải thiện )và sinh xuất chỉ giảm nhẹ, dân số gia tăng. Khi mỗi người tiêu thụ nhiều thực phẩm và sản phẩm hơn, muốn thỏa mãn yêu cầu tổng cọng, tất phải “ đòi hỏi một đường vào tài nguyên đồ sộ” . Điều này xài hết dự trữ tài nguyên có được, làm khó khăn thêm việc thỏa mãn các yêu cầu tài nguyên năm tới, và nhiên hậu dẫn tới sụp đổ hệ thống kinh tế. Vì lẽ các ảnh hưởng tụt lại phía sau, dân số tiếp tục tăng mãi cho đến tử xuất tăng sửng sốt do thiếu thực phẩm và săn sóc y tế giết chết một phần lớn mọi nền văn minh. Thủ phạm rỏ ràng là: “ sụp đổ xảy ra vì mất hút tài nguyên không tái sinh được.”
   Vậy chớ điều gì sẽ xảy ra, nếu thế giới gìn giữ được tốt đẹp hơn tài nguyên cũ và tìm ra được tài nguyên mới ? Khỏi cần lo đến điều này. Hãy cho chạy lại kiểu mẩu với  tài nguyên tăng gấp đôi hay vô giới hạn và sụp đổ vẫn xảy ra, nhưng bây giờ là do ô nhiễm. Khi dân số và sản xuất nổ tung, ô nhiễm cũng làm cho sản xuất thực phẩm sút giảm, giết chết ba phần tư dân số. Việc gì xảy ra, nếu kiềm chế được cả kỷ thuật lẫn chánh sách? Cũng khỏi cần lo đến điều này. Hãy chạy kiểu mẩu lần nữa với tài nguyên không giới hạn và bẻ cong bớt ô nhiễm đi, tiên đóan vẫn lạnh nhạt. Khi sản xuất tăng vụt, dân số cũng tăng theo và yêu cầu thực phẩm cũng tăng thêm. Cuối cùng đã đến giới hạn đất đai trồng trọt được và công nghệ cũng đói kém, vì tư bản đã được chuyễn sang những cố tâm càng yếu kém hơn hầu tăng gia năng xuất nông nghiệp. Với sản xuất thực phẩm rơi xuống mức chỉ vừa để sống – subsistence level, tử xuất tăng vọt mạnh và một lần nữa văn minh phải chịu số phận bi đát.
    Các tác giả kết luận rằng “ cách cư xử căn bản của hệ thống thế giới là tăng trưởng  dân số và tư bản lũy thừa , tiếp theo đó là sụp đổ”. Và “ khi chúng ta du nhập các phát triễn kỷ thuật đã thành công,tháo bỏ vài ngăn cản cho tăng trưởng hầu tránh vài sụp đổ, hệ thống đơn giản tăng đến một giới hạn khác, tạm thời vượt qua điểm này và thối lui trở lại.                       
     Khác với những tiên đóan bi thảm trước, tiên đóan này không còn đường ra dễ dàng nữa. Bà Carson đã muốn ngừng hẳn dùng thuốc dịch bệnh – pesticides. Ông Ehrlich muốn tăng trưởng dân số chậm đi. Nhưng The Limits of Growth muốn trình bày là ngay cả khi ô nhiễm và tăng trưởng dân số được kiểm sóat đi nữa, tài nguyên thế giới cũng sẽ bị tiêu xài hết va sản xuất thực phẩm sẽ lại rơi xuống mức chỉ vừa để sống. Hy vọng duy nhất là ngưng ngay tăng trưởng kinh tế . Thế giới cần cắt bớt tiêu thụ các hàng hóa vật chất và nhấn mạnh đến tái sinh và bền vững lâu dài. Hy vọng duy nhất tránh khỏi sụp đổ văn minh, theo biện cứ các tác giả, là xuyên qua những chánh sách hà khắc bó buộc dân gian có ít con hơn, cắt bớt tiêu thụ, ổn định xã hội ở một mức nghèo kém đáng kể hơn hiện tại.  
    Vì chưng nhiều người xem giải pháp này không thực tiễn tí nào, cách lấy đi từ tiệm đem về ăn rất đơn giản: thế giới đã bị vặn vít rồi. Cho nên câu chuyện đăng ở Thời báo Times năm 1972 về The Limits on Growth đặt đầu đề “   Tệ hại nhất Đã Xảy ra Chưa – The Worst is Yet to Be ? Báo viết:
               “ Các lò Pittsburgh đã nguội lạnh, các dàn ráp máy ở Detroit đã ngưng chạy . Ở Los Angeles, vài kẻ sống sót tiều tụy dịch hạch, cố tình cày cuốc vô vọng các hàng giữa xa lộ cao tốc, vườn sau và các đồng ruộng xa trung tâm, làm mùa chỉ vừa để sống . Các sở làm việc ở London tối om, các bến tàu vắng người. Ở các cánh đồng nông trang xứ Ukraine, các máy cày la liệt đầy đồng vì không còn nhiên liệu dùng chạy máy nữa. Nước các sông Rhine, Nile và Hoàng Hồ cào đầy chất ô nhiễm. Kỳ quái thật ? Không. Đó chỉ là điều thê thảm không tránh được nếu xã hội tiếp tục sự hiến dâng hiện hửu cho tăng trưởng và “ tiến bộ” .
             Sách The Limits to Growth đã được báo chí cực kỳ chú ý. Tạp chí Khoa Học – Sience đăng 5 trang về sách, Playboy ghi các đặc điểm sách rỏ ràng và tuần báo Life tự hỏi là có ai muốn nghe “sự thật khủng khiếp” không ? Các báo như The Economist và Newsweeks đồng ca theo cùng chỉ trích, nhưng năm 1973, cấm vận dầu lữa làm sách có vẽ như tiên tri. Với cú sốc dầu lữa và giá cả hàng hóa tăng vụt, tuồng như thế giới đang tiến tới kiểu tương lai Câu Lạc Bộ Rome !
 
                      Tiếc Quá
 
    Sau 40 năm , cách nào các tiên đóan xếp chồng ? Các người bênh vực thích nhấn mạnh là The Limits of Growth cẩn thận rào lại các đánh cuộc của mình với các tác giả tuyên bố là họ không trình bày “ những tiên đóan chính xác” và họ “ cố tình … hơi mơ hồ” trên khung thời gian, vì họ muốn tụ điểm trên cư xử tổng quát của hệ thống, nhưng đó chỉ là ngụy biện. Sách thật sự đã được trình bày minh bạch và hiểu biết, làm ra những tiên đóan rỏ rệt, gồm luôn cả việc thế giới đang gần cạn kiệt nhiều tài nguyên không tái sinh được.
      Giả thiết là yêu cầu tăng lũy thừa, The Limits to Growth tính ra cách nào gần nhất sau năm 1970, nhiều tài nguyên sẽ khô cạn. Kết luận của họ là trước năm 2012, thế giới sẽ xài hết aluminium, đồng, vàng kim, chì, thủy ngân, molybdenum, khí dầu thiên nhiên , dầu lữa, bạc, thiếc, tungsten và kẻm; 12 trong số 19 chất họ để tâm đến. Họ đã sai lầm , đơn giản và ngọan mục
         Họ đặc biệt nói đến thủy ngân, tuyên bố là các dự trữ tòan cầu biết được năm 1970 sẽ chỉ kéo dài 13 năm nữa , do yêu cầu tăng trưởng lũy thừa gây ra hay chừng 41 năm nữa thôi, nếu các dự trữ thủy ngân kỳ diệu tăng lên gấp năm lần. Họ lưu ý là “ giá cả những tài nguyên này theo các dấu hiệu dự trữ im lìm ngắn nhất, đã bắt đầu tăng rồi”. Chẳn hạn, giá thủy ngân đã tăng lên 500 %, trong 20 năm qua. Tuy nhiên từ đó, các sáng kiến kỷ thuật đã đưa tới thay thủy ngân ở bình điện, trám lỗ răng sâu và các nhiệt kế. Năm 2000 tiêu thụ thủy ngân đã sụt mất 98%, và giá cả sụt 90 % .
     Họ tiên đóan là vàng kim cũng sẽ cạn kiệt vào năm 1979 và chắc chắn sẽ hết hẳn năm 1999 , căn cứ trên ước lượng 10 980 dự trữ biết được năm 1970. Tuy nhiên 40 năm sau – năm 1970, thế giới đã khai thác 81410 tấn vàng kim và nay ước lượng vàng dự trữ thế giới lên đến 51 000 tấn.
     Dự trữ đồng biết được năm 1970 là 280 triệu tấn. Từ năm đó, khoảng 400 triệu tấn đồng đã được sản xuất trên hòan vũ và dự trữ đồng thế giới nay ước lượng là 700 triệu tấn. Từ năm 1946, các dự trữ đồng mới đã được khám phá mau lẹ hơn là tiêu xài hết những dự trữ hiện hửu.  Ba kim lọai khác quan trọng nhất thế giới là nhom – aluminium , sắt và kẻm cũng có số phận tương tự. Dù mức tiêu thụ  nhom - aluminium đã tăng thêm 16 lần kể từ năm1950, và dù rằng sự kiện là thế giới đã xài 4 lần aluminium hơn dự trữ biết được năm 1950, nhưng nay dự trữ aluminium có thể cung cấp đến 177 năm mức tiêu thụ hiện nay. The Limits of Growth cũng lo ngại hết dầu lữa vào năm 1990 và khí dầu thiên nhiên vào năm 1992. Thế nhưng các tài nguyên vừa kể, không những không cạn kiệt mà các dự trữ chúng, tính theo số năm tiêu thụ hiện tại, ngày nay còn lớn hơn bao giờ hết kể từ năm 1970, dù rằng tiêu thụ đã tăng gấp bội
                
                 Những gì Câu Lạc Bộ Rome đã bỏ qua
 
      Điểm căn bản sách The Limits of Growth có vẽ là trực giác, ngay cả hiển nhiên: Nếu  mãi mãi nhiều người dùng nhiều hơn mãi mãi cái ngữ tài nguyên, ngày nào đó họ sẽ chạm trán những giới hạn lý học hành tinh. Vậy chớ tại sao các tác giả lại sai lầm đến thế ? Tại vì họ đã bỏ qua tài nhân lọai khéo léo phát minh.
       Các tác giả The Limits of Growth đưa ra 5 thúc đẩy cho hệ thống thế giới, nhưng họ lại quên mất một thúc đẩy quan trọng hơn hết : con người ( dân gian ) với khả năng khám phá và sáng chế. Nếu bạn nghĩ rằng chỉ có 280 triệu tấn đồng dưới đất, bạn sẽ nghĩ rằng bạn sẽ không còn may mắn nữa, một khi bạn đã đào lên hết số lượng đồng này. Nhưng nói về “ các dự trữ biết được” thế là quên mất đi nhiều phương cách tài nguyên có được có thể tăng gia.
       Chẳng hạn , thăm dò đã cải thiện. Mới đây vào năm 2007, Brasil  tìm ra bồn dầu lữa Sugar Loaf - Cục Đường Ăn  ngòai khơi bờ biển São Paulo, có thể chứa 40 tỉ thùng dầu . Nhắc lại là  lưu vực Cửu Long, bồn dầu lữa lớn nhất nước nhà hiện nay, chứa 30 % tổng số tài nguyên dầu khí nước nhà, ước lượng 7- 8 tỉ tương đương thùng dầu thô , nghĩa là chỉ 1/5 bồn Sugar Loaf , Brasil. Các kỷ thuật chiết trích, khai thác dầu cũng đã cải thiện. Ngành công nghệ dầu lữa nay khoan giếng sâu hơn dưới đất , xa ra ngòai khơi đến các đại dương và trên xa đến Bắc Cực.   Ngành khoan ngang - horizontal drills  và sử dụng nước và hơi nước để vắt thêm dầu ở nhũng giếng cho dầu hiện hửu.
     Và khí dầu diệp thạch – shale gas nay có thể giải tỏa bằng kỷ thuật mới mẽ  phân chia đứt gãy – new fracking technology, đã giúp tăng gấp đôi tài nguyên khí dầu thiên nhiên Hoa Kỳ trong vòng 6 năm qua. Đây là một kỷ thuật tương tự đột khởi kỷ thuật làm nổi hóa học- chemical flotation cho khai thác những mỏ quặng đồng, trước đây cứ tưởng là vô phương- vô dụng, và cũng tương tự tiến trình Haber- Bosch đã làm cho cố định nitrogen khả thi, sản xuất phân bón hóa học, nay giúp nuôi sống 1/3 nhân loại.
     Aluminium là một nguyên tố kim lọai thông thường nhất Địa Cầu. Nhưng mãi gần đây, trích chiết khai thác vô cùng khó khăn và tốn kém, khiến nó có phần đắt hơn vàng kim và bạch kim - platinum. Nã phá Luân Đệ Tam có những thanh aluminium trưng bày song song các châu báu vương miện Pháp và vua biếu các khách mời danh dự những nĩa và muổng ( thìa ) aluminium, trong khi các khách ít quí hơn chỉ nhận các vật dụng bằng vàng kim. Chỉ khi có sáng chế tiến trình Hall – Heroult  năm 1886, giá aluminium mới  bất ngờ rớt xuống và số lượng  alumimium to lớn xuất hiện.
 Tuy nhiên, tài khéo léo sáng chế thường chỉ xảy ra ở những phương cách ít ngọan mục hơn, tạo ra những cải thiện từng nấc – incremental improvements ở những phương pháp đương thời, giúp giảm bớt phí tổn và tăng gia hiệu xuất.       
    Những điều vừa kể, không có nghĩa là Trái Đất và tài nguyên Trái Đất không phải là không hửu hạn đâu nhé !  Nhưng nó ngụ ý là số lượng tài nguyên cuối cùng có thể tạo ra nhờ tài khéo léo nhân lọai giúp đở, vượt xa hẳn những gì tiêu thụ con người đòi hỏi. Điều này cũng đúng cho năng lượng, nhiều người cho rằng đã đạt đỉnh. Chẳng hạn bỏ ra ngòai phí tổn, chính Tầng Lớp Sông Xanh -Green River Formation miền Tây Hoa Kỳ đã được ước lượng chứa 800 tỉ thùng dầu diệp thạch có thể thu về ba lần nhiều hơn dự trữ dầu chứng minh của Saudi Arabia. Và ngay với những kỷ thuật hiện hửu, số năng lượng tòan thể thế giới tiêu thụ ngày nay, có thể tạo ra bằng các pannen mặt trời bao phủ chỉ có 2.6 %   diện tích sa mạc Sahara.
    Lo ngại về tài nguyên không phải là mới mẽ gì. Năm 1965 , nhà kinh tế học William Stanley Jevons viết một sách nguyền rủa than đá dùng ở Vương Quốc Anh. Ông nhận thấy cuộc Cách Mạng Công Nghệ không ngừng tăng gia yêu cầu than đá, xài hết không tránh nổi mọi dự trữ than đá nước Anh và cuối cùng sẽ làm Anh Quốc sụp đổ :   “ Sẽ không còn viễn cảnh hợp lý nào để giải tỏa từ thèm muốn tương lai cho tác nhân chánh ( than đá ) ngành công nghệ. Năm 1908, chính Andrew Carnegie cũng than phiền: “ tôi đã bị ấn tượng nhiều năm qua vì tiêu xài kiên cố mất hết nguồn cung cấp quặng sắt của chúng ta. Thật đáng làm chóang váng đầu khi biết là nguồn cung cấp quặng giàu sắt trước đây cho là phong phú không thể tồn tại lâu hơn thế hệ đang tới, chỉ còn quặng nghề  ít sắt hơn cho đến những năm cuối cùng thế kỷ.” Lẽ dĩ nhiên , thế hệ Carnegie đã để lại đàng sau kỷ thuật tốt đẹp hơn, cho nên ngày nay khai thác các quặng chứa ít sắt, khó đến nơi hơn, cũng dễ dàng, rẽ tiền hơn.
     Một cách khác xem xét vấn đề tài nguyên là quan sát gía cả các vật liệu thô. Phe The Limits of Growth biện cứ rằng khi các cản trở tài nguyên trở nên khít khao hơn, giá cả chúng sẽ tăng. Các nhà kinh tế học dòng chánh, trái lại, thường tin cậy là tài khéo léo con người sẽ thắng cuộc và giá cả sẽ sụt đi. Một cá cuộc giữa hai phe đã xảy ra năm 1980. Nhà kinh tế học Julian Simon, phiền nảo vì những tuyên bố không ngừng là hành tinh sẽ xài mất hết dầu lữa, thực phẩm và vật liệu thô, đã cống hiến cá cuộc 10 000 đô la Mỹ cho bất cứ vật liệu thô nào các đối nghịch lựa chọn, sẽ có giá cả trụt xuống theo thời gian.  Cá cuộc Simon được nhà sinh học Ehrlich và các nhà vật lý học John Harte và John Holdren ( hiện nay là cố vấn khoa học cho tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama ) , nói rằng “ hút dẫn của tiền bạc dễ dàng là không chống lại được”   Cả ba đặt cọc trên chromium, đồng, nickel , thiếc và tungsten và họ lấy thời gian là 10 năm. .Khi đến hạn kỳ 10 năm, giá cả cả 5 hàng hóa này đã trụt xuống và họ đã phải chấp nhận thất bại ( dù rằng họ vẫn tiếp tục giữ kỷ biện cứ nguyên thủy ). Và đó không phải là một sự may mắn : giá cả các hàng hóa thương đã trụt xuống ở thế kỷ và nữa thế kỷ trước. ( xem hình 2 đính kèm )
    Tóm lại, các tác giả The Limits of Growth đã sai lầm lớn nhất ở thừa tố tài nguyên, sai lầm ngọan mục đó ! Các đồ thị của họ cho thấy các mức tài nguyên khởi sự cao và trụt xuống, nhưng tình trạng lại đối nghịch hẳn: chúng khởi sự thấp và tăng lên . Các dự trữ kẻm, đồng, bô xít ( quặng nhom chánh), dầu lữa, và sắt thảy đều cao lên ngoạn mục. ( hình 3 ).
 
                 Nhiều hơn, nhiều hơn, nhiều hơn
 
            Còn những thừa số khác của phân tích ra sao ? Sụp đổ to lớn của chúng cũng được tiên đóan xảy ra sau năm 2010, cho nên có lẽ còn quá sớm để có thể hòan tòan bóp méo. Nhưng những khuynh hướng cho đến nay, không còn tí gì hổ trợ luận đề ảm đảm – diệt vong nữa . Tăng trưởng sản xuất công nghệ mỗi đầu người cho đến nay hơi bị The Limits of Growth ước tính quá đáng một tí, có lẽ vì tài nguyên đã rẽ hơn thay vì đắt hơn và sản xuất càng ngày di chuyễn vào ngành công nghệ dịch vụ. Nhưng các tiên đóan dòng chánh cho tăng trưởng GDP dài hạn, một kẻ ủy nhiệm có vẽ hợp lý đã là dương tính mắt thường nhìn thấy được, tương phản rỏ rệt những gì The Limits of Growth mong đợi. Chẳng hạn, Ủy ban Liên Chánh phủ về Thay đổi Khí hậu, nhóm chánh duy nhất đã đặt ra các kịch bản GDP thông báo đến năm 2010 , ước lượng là GDP mỗi đầu người tòan cầu sẽ tăng 14 lần trong thế kỷ và 24 lần ở các quốc gia chậm tiến.
        Số lượng tăng dân số cũng bị ước lượng phần nào quá đáng, chánh yếu là do tiên tiến y khoa đã giảm bớt tử xuất mau lẹ hơn chúng ta tưởng ( dù rằng có khủng hỏang không liệu trước HIV/AIDS ). Nhưng sác xuất tăng gia dân số đã chậm lại, kể từ cuối thập niên 1960, khác với các tiên đóan World3, vì sinh xuất cũng đã rơi xuống song song với phát triễn. Và tiên đóan cho hai thừa tố cuối cùng, sản xuất nông nghiệp và ô nhiễm còn xa vời, và điều này quan trọng, vì lẽ chúng là những thúc đẩy hổ trợ sụp đổ , nếu khan hiếm tài nguyên không làm được nhiệm vụ. Tiêu thụ thực phẩm tòan cầu mỗi đầu người mong đợi sẽ tăng trên 50% vào 4 thập niên sau 1970 , đạt đỉnh năm 2010, rồi trụt xuống 70 %. Số calôri có được đã thật sự tăng gia, nếu không quá đáng kỳ lạ ( chừng hơn 25 % ) , nhưng sụp đổ nguồn cung cấp thực phẩm không thấy bóng dáng xảy ra bất cứ nơi nào  và chúng ta có mọi lý do để tin tưởng là  lợi lộc sẽ tiếp tục và sẽ vững bền. Thiếu dinh dưỡng chưa tiêu tan, và con số người tuyệt đối đói khát, thật sự đã tăng gia đôi chút ( phần lớn vì vài mùa màng đã bị chuyễn từ thực phẩm qua sản xuất nhiên liệu sinh học, vì những lo ngại về hâm nóng địa cầu). Nhưng 40 năm qua, phân số dân số tòan cầu còn ăn uống thiếu dinh dưỡng đã rơi xuống từ 35 %  chỉ còn ít hơn 16% và nay đã có thêm hơn 2 tỉ người được nuôi ăn uống đầy đủ. Không có nơi nào trên thế giới đã đụng trần nhà về sử dụng đất đai trồng trọt được; hiện nay có 3.7 tỉ mẩu Anh ( mẩu anh - acre gần bằng ½ ha ) đang được sử dụng và 6.7 tỉ mẩu Anh là dự trữ. Cũng như lợi lộc năng xuất ( hiệu năng ) chưa tới tối đại.  Báo cáo dài hạn Liên Hiệp Quốc về   thực phẩm có được, từ năm 2006, ước lượng là thế giới sẽ đủ khả năng nuôi sống nhiều người hơn nữa, mỗi người nhiều calôri hơn, cho đến giữa thế kỷ 21
      Về các tiên đóan ô nhiễm, The Limits of Growth vừa dễ sợ vừa mơ hồ. Tăng ô nhiễm được giả thiết là kích động đổ sụp tòan cầu, nếu gia giảm thực phẩm hay tài nguyên chưa làm điều này trước tiên, nhưng cách nào ô nhiễm được định nghĩa chính xác thì không rỏ rệt gì cả. Các ô nhiễm cá nhân tỉ như DDT, chì, thủy ngân và thuốc dich bệnh : trừ sâu bệnh, cỏ dại -  pesticides được nói tới, nhưng cách nào chúng có thể giết một số người đáng kể lại không được cụ thể, làm khó thử nghiệm xem tiên đóan có đúng không. Ô nhiễm không khí có thể được xem là một kẻ ủy nhiệm tốt cho ô nhiễm tòan thể, vì nó là kẻ sát nhân môi sinh lớn nhất ở thế kỷ thứ 20 và từ khi EPA ước tính là điều hòa của EPA đã làm ra 86-96% mọi lợi ích xã hội,  từ điều hòa môi sinh tổng quát hơn . Tại các nước chậm tiến- đang mở mang , ô nhiễm không khí ngòai trời đúng là đã tăng thêm và giết chết nhiều hơn, có lẽ trên 650 000 người mỗi năm. Ô nhiễm trong nhà ( vì dùng nhiên liệu dơ bẩn để nấu nướng và sưởi ấm ), giết người còn nhiều hơn nữa, gần 2 triệu mỗi năm ( tuy rằng con số nay có giảm chút ít).
    Ngay cả ở tại các nước đã mở mang, ô nhiễm không khí ngòai trời vẫn còn là kẻ sát nhân môi trường lớn nhất (ít nhất là 250 000 mỗi năm ) , dù rằng các điều hòa môi trường đã giảm số người chết đáng kinh ngạc,  nữa thế kỷ vừa qua. Ô nhiễm không khí trong nhà ở thế giới đã mở mang hầu như không giết ai cả. Trong khi Câu Lạc Bộ Rome đã tưởng tượng một quá khứ thần tiên không ô nhiễm, các nông dân sung sướng và một thế giới tương lai nghẹt thở vì hơi khói và độc tố, do công nghệ hóa chạy lồng điên cuồng, nhưng thực tế lại khác hẳn. Thế kỷ qua, ô nhiễm không xoắn ốc ngòai vòng kiểm sóat hay trở nên giết người hơn nữa, và hiểm nguy chếc chóc vì không khí ô nhiễm được tiên đóan là sẽ tiếp tục rơi xuống ( xem hình ).
 
                       Ai lưu tâm đây ?                       
  
                 Thế cho nên dự án The Limits of Growth sai lầm ngọan mục trong ba thúc đẩy chánh và sai lầm khiêm tốn ở hai thúc đẩy khác. Thế giới không mất hút hết tài nguyên, không mất  tiêu hết thực phẩm, không nghẹt cổ vì ô nhiễm và dân số thế giới , sản xuất công nghệ đang lên cao một cách vững bền. Vậy thì sao ? Tại sao ai đó nay lại phải lưu tâm ? Vì phân tích dự án chìm sâu vào ý thức dân gian và thượng lưu và giúp tạo hình cách nào dân gian suy tư về một lọat vấn đề chánh sách ngày nay.
              Hãy lấy trường hợp tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Hãy hỏi ai đó ngày nay xem anh ta có lưu tâm về môi trường không và anh đã làm gì về chuyện này. Bạn sẽ nghe anh ta trả lời như sau : “lẽ dĩ nhiên là tôi lưu tâm; tôi đã làm tái sinh”. Phần lưu tâm rất tốt cho thay đổi tích cực – dương tính từ vài thập niên qua. Nhưng phần tái sinh chỉ là một cử chỉ làm an tâm, đóng góp rất ít cho lợi lộc môi trường, ở phí tổn đáng kể.
         Tái sinh không phải là một ý kiến mới mẽ gì. Nó có nghĩa lý cho các công ty và dân gian đã làm tái sinh các hàng hóa qúi báu lâu ngày  trước khi dự án The Limits of Growth chào đời. Chẳng hạn, đồng đã được tái sinh theo sác xuất 45 % suốt thế kỷ vừa qua, vì nhũng lý do thuần túy thực tiễn, không phải lý do môi trường. Tại sao sác xuất lại không cao hơn ? Tại vì vài người dùng đồng theo những bó lớn và dễ dàng tái chế biến hơn cố gắng làm tái sinh có giá trị, trong khi vài người khác dùng đồng phân tán theo những mảnh nhỏ khó gom góp , làm cho tái sinh không hửu hiệu.
        Ngày nay khi dân gian nhĩ tới tái sinh họ thường nghĩ đến giấy - paper. Điều này cũng không phải là một ý kiến mới. Rác đã là một tài nguyên từ hàng thế kỷ rồi, với phân hạng chúng và tái chế biến tùy theo giá cả thị trường đương thời của các lọai hàng hóa. Suốt thế kỷ vừa qua, khỏang 30- 50 % mọi lọai giấy đã được tái sinh, trước khi  xảy ra các chiến dịch thông tin công cộng hay duới áp lực các kẻ chức vị. Nhưng nay, theo vết chân của những kẻ than óan như The Limits of Growth, tái sinh có khuynh hướng được xem là nhỏ bé hơn là một vấn đề kinh tế , mà là một vấn đề cá nhân hay đạo đức công dân.  Con em học hỏi nên “ giảm thiểu, tái dụng và tái sinh” như thể là một phần giáo dục tinh thần luân lý chánh thức. Chúng được dạy phải làm như vậy, chúng sẽ “ cứu vớt cây cối”. Nhưng thực tế là là những rừng cây xử lý tốt đẹp cho sản xuất giấy như ở Phần Lan – Finland hay Thụy Điển- Sweden được liên tục trồng lại, sản xuất không phải ít mà nhiều cây hơn. Khuyến khích nhân tạo tái sinh giấy  hạ bớt tiền thanh tóan cho những rừng này, sẽ  dùng chuyễn hóa qua đất trồng trọt hay xây dựng đô thị. Tái sinh giấy không cứu vớt các rừng già – rừng mưa nhiệt đới, vì giấy không dùng gỗ cây rừng nhiệt đới. Tái sinh giấy cũng không giải quyết vấn đề phế thải thành phố: đốt ra tro có thể cướp giựt lại phần lớn năng lượng từ giấy đã sử dụng, gần như không có tí nào các vấn đề rác phế thải. Ngay cả khi không đốt ra tro, tòan thể rác  mọi thành phố Hoa Kỳ  cả thế kỷ 21, có thế chứa trong một đống rác vuông vức dài mỗi cạnh 18 dặm Anh ( gần 29 km) và cao 30m.
       Tuy nhiên, cố gắng tái sinh chất liệu tỉ như giấy và gương – glass tiêu thụ tiền của và nhân lực là những tài nguyên hiếm có, có cơ tiêu xài cho các cố gắng khác có giá trị xã hội, tỉ như xây cất đường xá và tuyễn nhân viên chuyên môn bệnh viện.  Cho nên khi gía cả giấy suy thóai và giá trị công việc lao động tăng gia đáng kể , ngày nay chúng ta nạp cống phẩm cho thần dị giáo của biểu tượng chủ nghĩa môi sinh bằng cách dùng vô số giờ để lựa chọn, tồn trữ và thu thập giấy đã dùng. Mà khi phối hợp cùng các trợ cấp chánh phủ sản xuất ra một lọai giấy phẩm gía có phần kém hơn, hầu bảo đảm một tài nguyên thật sự không bao giờ bị đe dọa cả.
           Cái gì đúng về tái nguyên, hơn nữa, cũng đúng cho hai thúc đẩy giả thiết làm sụp đổ khác là dân số và ô nhiễm. Thúc cựa bằng các phân tích như những trình bày ở The Limits of Growth , những năm qua, rất nhiều thì giờ và cố gắng đã chuyễn đi từ những họat động ích lợi qua những họat động đáng nghi ngờ và có khi nguy hại nữa. Chẳng hạn, bóng ma của một dân số luôn luôn tăng thêm, nhai gặm hết tài nguyên luôn luôn giảm bớt giúp làm dân gian hỏang sợ, tạo ra những phản ứng khắc nghiệt tỉ như chánh sách chỉ một con- one child ở Trung Quốc và thiến họan – sterilizations bắt buộc ở Ấn Độ. Những hành động này không được chứng minh và các chánh sách khác có thể giúp hành động tốt hơn, phí tổn thấp hơn với những thành quả ưa thích hơn. Chẳng hạn, giáo dục tăng thêm cho đàn bà, giảm bớt nghèo khổ, và bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao hơn, có cơ làm giảm kích thước gia đình có nhiều lợi lộc phụ thuộc hơn.
       Trong lúc đó các kịch bản ghê rỡn các chất ô nhiễm như DDT và thuốc dịch bệnh pesticides giết chết nhân lọai, đã đưa tới những cố tâm cấm dùng chúng và làm lan rộng tăng trưởng phong trào thực phẩm hửu cơ – organic food. Và dù đúng khi sử dụng, những sản phẩm nay có phí tổn - ở nồng lượng lớn DDT có hại cho chim chóc, ngay cả những chất dịch bệnh điều hòa tốt, cũng gây ra ở Hoa Kỳ mỗi năm 20 người chết- cũng làm ra lợi lộc đáng kể. DDT là thuốc rẽ nhất, một phương cách hửu hiệu nhất chống trả bệnh sốt rét. Cấm dùng DDT ở đa số các nước đã mở mang ( dù tự mình rất hửu lý ) đã đưa tới những áp lực từ các tổ chức không chánh phủ và các tổ chức viện trợ để cấm dùng nó khắp mọi nơi  khác; những chiến dịch này  nay đã được Cơ Quan Y tế Quốc tế -WHO bải bỏ, tuồng như đã góp phần giết chết không cần thiết nhiều triệu nhân mạng.
          Ở các nước đã mở mang, thúc đẩy đào thải các thuốc dịch bệnh đã quên mất nhũng lợi lộc đồ sộ của chúng. Đi vào hòan tòan hửu cơ, sẽ gia tăng phí tổn sản xuất nông nghiệp ở Hoa Kỳ, mỗi năm hơn 100 triệu đô la Mỹ. Vì chưng trồng trọt hửu cơ hủu hiệu  thấp hơn ít nhất là 16%, duy trì một sản lượng tương đương cũ, sẽ đòi hỏi tăng thêm đất trồng trọt 12 triệu ha, một diện tích lớn hơn diện tích trồng trọt bang California. Vì chưng ăn trái cây và rau đậu giúp giảm thiểu ung thư, và vì trồng trọt hửu cơ sẽ dẫn đến giá cả cao hơn, làm tiêu thụ giảm bớt, chuyễn hướng qua hửu cơ duy nhất, sẽ gây ra thêm hàng chục ngàn chết chóc vì ung thư.
          Trả thêm hơn 100 tỉ, tăng thêm đồ sộ diện tích trồng trọt Hoa Kỳ, và giết chết hàng chục ngàn dân gian có vẽ là một lợi lộc thấp kém để né tránh vài tá  dân Hoa Kỳ chết vì thuốc dịch bệnh mỗi năm. Nhưng đó là phương cách dự án The Limits of Growth và các cố gắng tương tự đã dạy cho thế giới suy tư , làm dân gian lo âu khinh xuất về các vấn đề biên tế, trong khi quên bẳng các hành động biết phải trái để giải quyết những vấn đề chánh yếu.
            
                 Làm điều phải , thực tế
 
            Di sản đáng ngờ của sách the Limits of Growth không chỉ là tái sinh không cần thiết giấy hay mờ mắt với sản phẩm hửu cơ. Tổng quát hơn sách và những sách bắt chước truyền bá những kịch bản tai họa môi sinh tệ hại nhất , khiến việc làm chánh sách hợp đạo lý khó khăn.   Gieo rắc sợ hải tạo ra nhiều chú ý , nhưng ít khi dẫn đến những giải pháp thông minh cho các vấn đề thực sự, một cái gì đòi hỏi xem xét bình tĩnh phí tỗn và lợi lộc của nhiều lối hành động. Bằng cách bao hàm các vấn đề thế giới đối đầu quá lớn, quá khẩn cấp chỉ có cơ giải quyết duy nhất bằng những can thiệp và hy sinh khối lượng tức thời, trên phương diện chánh trị thường bất khả thi và như vậy không bao giờ thực hiện, gieo rắc sợ hải về môi sinh giẫm nát bàn luận trên những can thiệp thực tế hơn, có thể làm ra khác biệt.
          Một duyệt xét nguyên thủy sâu sắc nhất của The Limits of Growth theo nhà kinh tế học Carl Kaysen khéo léo dùng đầu đề : “Máy Computer In ra W.O. L.F. – Chó Sói” . Sau khi tàn nhẫn trích ra riêng rẽ các khiếm khuyết ở biện cứ trong sách, Kaysen lưu ý là ngụ ngôn chú bé la làng “ chó sói” “ cuối cùng là chó sói thật sự”, y hệt  “ ở thế giới ngày nay, có những vấn đề thực sự và khó khăn theo chân phát triễn kinh tế , như chúng ta được biết.” Thách thức phân biệt giữa các báo động giả dối và các báo động thực sự ; thứ đến là đặt ra những cố gắng thận trọng khi xử lý hiểm nguy.
         Hãy nói đến ô nhiễm.   Nhờ những công trình như “ Silent Spring - Mùa Xuân Im lặng ”  và “ Những Giới hạn cho Tăng trưởng- The Limits of Growth , lo âu về thuốc dịch bệnh  đã chụp giựt rất nhiều tranh cải sớm về môi sinh và độc quyền lịch trình chánh sách EPA trong thập niên 1970. Tiếc thay, điều này không giải quyết vụ chó sói thực sự là ô nhiễm không khí ngòai trời và trong nhà. Ô nhiễm không khí ngòai trời có thể giết chết chừng 135 000 dân Hoa Kỳ mỗi năm, 4 lần hơn số người chết tai nạn giao thông . Nhưng vì không có những kẻ ủng hộ lừng danh và ít ai ưa thích, nó là một chó sói quên bẳng, cũng như ô nhiễm trong nhà đã giết chừng 2 triệu nhân mạng mỗi năm ở các nước chậm tiến, đang mở mang .           
 .           Nhưng Câu lạc Bộ Rome không chỉ làm xao lãng chú ý thế giới. Nó đã hướng  chú ý về hướng sai lầm, xác định tăng trưởng kinh tế là vấn đề cốt lõi của nhân lọai.   Các chẩn đóan này chỉ thích nghi cho các cư dân giàu có, sống thỏai mái của những quốc gia đã mở mang cao độ, đã có đủ và dễ dàng những tiện nghi căn bản đời sống . Tương phản lại, khi một đàn bà nghèo khổ vô vọng ở thế giới chậm tiến không đủ sức mua thực phẩm cho gia đình , lý do không phải là thê” giới không sản xuất thực phẩm mà là bà ta không đủ sức mua.  Khi các con bà đau ốm vì hít thở các làn khói hơi, đốt phẩn chuồng khô- dung, giải pháp không phải là bà phải dùng phẩn khô được chứng nhận hợp môi sinh, mà là nâng cao đời sống tiêu chuẩn của bà, đủ để mua các nhiên liệu sạch hơn và thuận tiện hơn. Tóm lại , nghèo khổ   là sát nhân lớn nhất và tăng trửng kinh tế là một trong những phương cách tốt đẹp nhất để ngăn ngừa nghèo khổ. Những bệnh tật chửa được dễ dàng vẫn còn giết chết chừng 15 triệu người mỗi năm. Cái gì sẽ cứu vớt họ là tạo dựng những xã hội giàu có hơn cỏ thể đủ sức chửa trị, điều nghiên và ngăn ngừa các đột phát mới.
     Khi khuyến cáo thế giới giới hạn phát triễn để chặt đứt sụp đổ giả thiết tương lai, The Limit of Growth dẫn dân gian đến đặt vấn đề cho giá trị đeo đuổi tăng trưởng kinh tế .  Nếu như các gợi ý  của dự án được nghe theo mấy chục năm nay,  chắc sẽ không bao giờ có “ những tiến bước của phần thế giới còn lại”, không có nữa tỉ dân Tàu, dân Ấn các nước khác tiến ra khỏi vùng nghèo khổ chà nát thân xác, không có cải thiện đồ sộ về y tế , tuổi thọ,đời sống phảm giá cho hàng tỉ người trên hành tinh này. Ngay cả khi trường phái tổng quát suy tư của Câu Lạc Bộ Rome  may mắn đi theo phương cách của những di tích thời thập niên 1970 , tỉ như các vòng tình huống – mood ringsđá ưa thích- pet rocks , ảnh hưởng nó vẫn lẫn quất trong ý thức dân gian và thượng lưu, Dân gian kich động nhiều hơn về số phận của Kyoto Protocol hơn là số phận của Thảo luận vòng tròn Doha Round , dù cho nới rộng thương mãi  sẽ là trăm lần hay ngàn lần tốt hơn  là giới hạn thấp bé của phát thải và làm ra rẽ , mau lẹ , hửu hiệu hơn cho những kẻ dễ tổn thương hơn. Đã qua rồi chăng thời gian nhìn nhận là tăng trưởng kinh tế, dù còn thiếu một từ đẹp hơn, thật sự rất tốt và đó là cái gì thế giới cần thêm, không phải giảm đi.                  
  
( Irvine, Nam Ca Li – Hoa Kỳ, ngày 12 tháng 7 năm 2012 )    
 
 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 271917 visitors (955483 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=