thnlscantho-3
  Cập nhật rầy nâu-P1
 
16/5/2012

Nghiên cứu cập nhật các đặc tính sinh học và sinh thái của rầy nâu (Nilaparvata lugens) nhằm quản lý hữu hiệu cho sản xuất lúa bền vững ở đồng bằng sông Cửu Long

 

Nguyễn Văn Huỳnh , Trần Thanh Thy2, Bùi Minh Phong2, Nguyễn Hữu Phước2 và Lê Thị Trúc Linh2 

 

Abstract. The biological and ecological characteristics of the brown planthopper (BPH) Nilaparvata lugens (Stal) had been studied fully and published internationally by IRRI and other countries in the Asian area, but no research update is available for the Mekong Delta at Vietnam in recent years. Therefore, starting from 2006 these studies were conducted and their actual results showed that: (1) BPH female caught by light traps had virgin ovarioles, mated and started to lay eggs after 3-4 days on rice host plants, and then produced up to 360.48 nymphs per female if reared together with the male, (2) appropriate to the average life cycle of 22.38 days on the susceptible variety (Jasmine 85), analyses of daily light traps’ catches at different locations in the Mekong Delta recorded one BPH density peak for every month, with 5-6 days earlier for the next month, (3) the model of “BPH integrated management at the community level” carried out at seven locations in the area showed that there are three peaks of BPH density per rice crop as recorded by light traps’ catches and actual counts in the field but those in the field were usually much lower and gave no damage as the “BPH escape” seeding technique and advanced cultural practices were applied, even for the BPH susceptible varieties. Adjusting the present continous rice cropping pattern to a system of three or two rice crops per year is badly needed to prevent the year round BPH contamination.

Key words: Nilaparvata lugens, brown planthopper, biological and ecological characteristics, light traps’ catches, actual count, “BPH espcape strategy”, Mekong Delta.

 

Giới thiệu

Rầy nâu, Nilaparvata lugens (Stal) (Delphacidae, Homoptera), là loài côn trùng hại lúa rất phổ biến trên cả nước từ năm 1974 đến nay, đặc biệt là đã gây hại rất lớn ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong các trận dịch 1974-1979, 1990-1992 và từ 2006 đến nay. Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo chống rầy vào tháng 4.2006 với biện pháp khẩn cấp ban đầu là huy động hết thuốc trừ sâu dự trữ để đưa về các tỉnh dập dịch, rồi sau đó có sáng kiến đặt bẫy đèn ở trên khắp cả vùng để theo dõi mật số rầy di cư nhằm dự báo để phòng trừ kịp thời. Hiện nay, bẫy đèn đã được triển khai rộng khắp cả vùng và sáng kiến áp dụng kỹ thuật sạ lúa “né rầy” đã được chỉ đạo và nông dân áp dụng rộng rải nên đã góp phần bảo vệ được năng suất lúa khỏi bị rầy nâu gây hại. Mặc dù vậy mật số của rầy nâu ngòai đồng ruộng vẫn còn rất cao với khả năng mang gen truyền bệnh vi rút “Vàng Lùn” cho lúa và nông dân vẫn còn sử dụng nhiều thuốc hóa học thay vì áp dụng nguyên tắc phòng trừ tổng hợp IMP theo khuyến cáo. 

Do đó, để góp phần vào việc phòng trừ rầy nâu được hữu hiệu hơn, đề tài này trình bày một số nghiên cứu cơ bản về vòng đời và khả năng sinh sản của rầy nâu khi di cư, các phân tích kết quả bẫy đèn cho thấy chu kỳ phát sinh và di cư của chúng trong năm và kết quả của mô hình phòng trừ rầy nâu tổng hợp ở cấp cộng đồng.

 

Phương tiện và Phương pháp

 

1. Khảo sát chu kỳ sinh trưởng và khả năng sinh sản của rầy nâu

Bắt thành trùng rầy nâu vào đèn tại thành phố Cần Thơ về nuôi trong lồng lưới (0,8m x 0,6m x 0,6m) để tạo nguồn làm thí nghiệm. Chọn 30 cặp thành trùng vừa vũ hoá để thả riêng từng cặp trên một cây lúa 20 ngày tuổi của giống Jasmine 85 (được xem như không có gen kháng rầy) trồng trong chậu nhỏ và được bao lại bằng lồng plastic (cao 30cm x 6cm đường kính, có bao lưới mịn ở đỉnh lồng) để khảo sát khả năng đẻ trứng và thời gian để trứng nở. Năm mươi (50) ấu trùng vừa nở ra được nuôi riêng từng con trên cây lúa Jasmine 85 ở 10-15 ngày tuổi (sau khi gieo) trong lồng nhựa cá nhân như trên để theo dõi mỗi ngày về thời gian lột xác và lớn lên cho đến khi trưởng thành. Khi vừa vũ hoá bắt từng cặp của chúng thả vào lồng nuôi như trên để khảo sát tuổi thọ và số ấu trùng nở ra. Chăm sóc hàng ngày để thay cây lúa mới khi cần thiết.

Thí nghiệm được bố trí trong nhà lưới theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với số lần lập lại như trên. Chỉ tiêu theo dõi gồm: (1) số trứng đẻ/cặp và thời gian để trứng nở, (2) các giai đoạn phát triển của ấu trùng, và (3) tuổi thọ của thành trùng, tỉ lệ đực:cái, thời gian bắt cặp và thời gian trước khi đẻ của con cái.

 

2. Khảo sát ảnh hưởng của tuổi cây lúa đến sự phát triển dạng cánh của rầy nâu

Có hai tuổi của cây lúa Jasmine 85 được chọn là: (1) đang nhảy chồi ở 30 ngày sau khi gieo, và (2) vừa trổ (55 NSKG). Thả 100 ấu trùng (tuổi 1-2) lên mỗi buội lúa ở tuổi nói trên, được trồng trong chậu nhựa và bao trong lồng plastic cá nhân (cao 100cm x đường kính 12cm). Chăm sóc cây lúa và theo dõi hàng ngày về sự phát triển của ấu trùng cho đến khi tất cả trưởng thành.

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 10 lần lập lại là 10 lồng như trên. Chỉ tiêu theo dõi gồm: (1) tỉ lệ sống sót của ấu trùng đến trưởng thành, và (2) tỉ lệ cánh dài: cánh ngắn của con đực và con cái.

 

3. Khảo sát khả năng bắt cặp và đẻ trứng của rầy nâu vào đèn

Trong đợt dịch rầy nâu gây hại lúa ở đồng bằng sông Cửu Long từ 1977-1979, có một số nghiên cứu cho thấy rầy nâu vào đèn vẫn còn có khả năng đẻ trứng mặc dù số trứng đẻ ít hơn rầy được nuôi lớn lên bình thường tại chổ, nhưng chưa xác định được rầy trước khi vào đèn đã có đẻ trứng hay chưa (Viện Bảo vệ Thực vật, 1980; Bùi Văn Ngạc et al. 1980; Bộ môn Bảo vệ Thực vật - Đại học Nông nghiệp 4, 1980). Ngoài ra, trước đó Dyck et al. (1979) cho biết ngắn gọn là rầy nâu di cư trước khi đẻ trứng (preovipositional). Hiện nay cũng có nhiều người vẫn còn băn khoăn về khả năng nầy nhằm xác định hiệu quả của việc dùng bẫy đèn để gieo sạ lúa “né rầy”.

Do đó, để làm sáng tỏ hơn về đặc điểm này, rầy nâu vào đèn đã được thu mẫu tại bẫy đèn đặt tại trường Đại học Cần Thơ, ở cách xa mặt đất 2 mét và thu mẫu vào khoảng 8-9 giờ tối. Rầy đực và cái được giữ riêng rẻ trong hộp nhựa lớn có để cây lúa cho chúng sống đến sáng hôm sau. Lúc đó thí nghiệm được thực hiện bằng cách nuôi cá thể rầy cái trên cây lúa 30 ngày tuổi (một cây lúa của giống Jasmine 85 trồng trong chậu, có bao bằng lồng plastic như trên) với có nhốt chung một con đực hay không. Thí nghiệm được chăm sóc và quan sát hàng ngày để ghi nhận: (1) ngày bắt đầu đẻ trứng, (2) thời gian đẻ trứng, (3) số ấu trùng nở ra của mỗi con cái bằng cách đếm hàng ngày cho đến khi hết nở, (4) tuổi thọ của con cái. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hòan tòan ngẫu nhiên (CRD) với hai nghiệm thức như trên và được lặp lại 30 lần.

Ngoài ra, rầy cái được giải phẩu để quan sát sự phát triển của buồng trứng vào lúc 0 (ngay lúc vào đèn), 12, 24 và 48 giờ được nuôi trên cây lúa có chung hay không với con đực. Đồng thời theo dõi sự bắt cặp của thành trùng ban ngày.

 

4. Phân tích số liệu rầy nâu vào đèn ở các tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long.

4.1. Diễn tiến mật số rầy nâu vào bẫy đèn trong một năm ở các tỉnh

Từ tháng 11.2006 “Ban Chỉ Đạo Phòng Trừ Rầy Nâu và Bệnh Vàng Lùn, Lùn Xoắn Lá” của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã phối hợp với Chi Cục Bảo vệ Thực vật của các tỉnh trong vùng ĐBSCL bố trí hệ thống bẫy đèn tại địa phương để theo dõi mật số rầy nâu hàng ngày nhằm phục vụ cho công tác dự tính dự báo và gieo sạ “né rầy” đồng loạt để tránh các cao điểm của rầy nâu di cư.

Số liệu về mật số rầy nâu vào đèn hàng ngày đã được các địa phương thu thập và gởi đến Trung Tâm Bảo Vệ Thực Vật Phía Nam ở Long Định (Tiền Giang) để tổng kết và theo dõi cho công tác dự báo.

Chúng tôi đã xin phép để được tiếp cận các số liệu này trong một năm, từ tháng 11.2006 đến tháng 10.2007, để phân tích đánh giá nhằm tìm hiểu quy luật phát sinh, phát triển và di cư của chúng trong năm tại các vùng sinh thái canh tác lúa khác nhau ở ĐBSCL. Số liệu được trình bày bằng đồ biểu của mật số rầy vào đèn trong mỗi tháng để cho thấy số lứa rầy và thời gian xuất hiện trong tháng tại các tỉnh. Ngoài ra, chọn một số tỉnh có số liệu đặc trưng của từng huyện để lên đồ biểu nhằm phân tích các yếu tố của môi trường có khả năng ảnh hưởng đến sự gia tăng mật số của rầy nâu.

 

4.2. Diễn tiến mật số của rầy nâu và mức độ gây hại của chúng trong một vụ lúa

Qua hợp tác với FAO (Food and Agriculture Organization), Cục Bảo Vệ Thực Vật đã thực hiện thí nghiệm 7 mô hình về “Phòng trừ tổng hợp rầy nâu và bệnh Vàng Lùn hại lúa ở cấp cộng đồng” tại 7 tỉnh ở các vùng sinh thái khác nhau về canh tác lúa của ĐBSCL như Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng và Hậu Giang.

Mô hình được thực hiện trong vụ Hè Thu từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2007 với diện tích của mỗi mô hình khỏang 40-60 ha liền kề nhau trên một cánh đồng, có thời gian gieo sạ đồng loạt để “né rầy” dựa vào kết quả của bẫy đèn đặt tại mô hình, sử dụng mật độ sạ và phân bón hợp lý, và chỉ sử dụng thuốc trừ sâu theo nguyên tắc “4 ĐÚNG” khi nào thật sự cần thiết - nghĩa là mật số rầy nâu lên đến ngưỡng hành động qua theo dõi rầy vào bẫy đèn và kiểm tra mật số thực tế trên ruộng của mô hình tại 5 ô có diện tích 1 m2 theo đường chéo góc. Các số liệu về mật số rầy và thiên địch của chúng, số lần phun thuốc, năng suất lúa và lợi nhuận của mô hình đã được tổng hợp và phân tích để so sánh với ruộng đối chứng của nông dân.  

 

Kết quả và Thảo luận

1. Đặc tính sinh học và chu kỳ sinh trưởng của rầy nâu

1.1. Chu kỳ sinh trưởng

Kết quả trình bày trong Bảng 1 cho thấy:

1. Thời gian phát triển của trứng trung bình là 6,48 ngày (5-7 ngày). Trứng thường được con cái đẻ ghim trong bẹ lá ở dưới gốc lúa ngay gần sát mặt nước. Kết quả ở điều kiện nhiệt độ này cho thấy sớm hơn với tổng kết trước đây của Mochida và Okada (1979) cho rằng trứng có thời gian phát triển ngắn nhất là 7,9 ngày ở  280C và dài nhất là 8,5 ngày ở nhiệt độ thấp là 8,50C.

2. Ấu trùng có 5 tuổi với thời gian phát triển trung bình là 12,38 ngày (11-16 ngày), dài nhất là tuổi 1 (2,96 ngày) và tuổi 5 (3,02 ngày), còn tuổi 2 đến tuổi 4 ngắn hơn, từ 2,04 đến 2,42 ngày. Ấu trùng đều sống ở gốc lúa là chính, lột xác vào ban ngày (nhất là vào buổi sáng). Kết quả này cũng khá phù hợp với Mochida và Okada (1979) là ấu trùng cũng có 5 tuổi và lâu 12,0 ngày ở 270C, 12,6 ngày ở 290C, 13,1 ngày ở 310C, 17 ngày ở 330C, 18,2 ngày ở 350C. 

3. Thành trùng đực sống lâu trung bình 12,17 ngày (6-21 ngày). Thành trùng cái sống lâu 16,29 ngày (10-21 ngày) và đẻ trung bình 543 trứng (111-938 trứng) từ 3,5 ngày (3-5 ngày) sau khi vũ hoá cho đến ngay trước khi chết (tuy nhiên, đẻ rộ nhất là từ 6-10 ngày sau khi vũ hoá). Sau khi chết trong bụng con cái cũng còn nhiều trứng đã phát triển (Hình 1).

Thành trùng có hai dạng cánh: con cái có tỉ lệ cánh ngắn/dài (brachypterous/macropterous wings) là 94% và con đực có tỉ lệ là 89% trong điều kiện nhà lưới trên cây lúa của giống Jasmine 85 ở 30 ngày tuổi sau khi sạ. Điều này cho thấy điều kiện thí nghiệm và giống lúa thích hợp cho sự phát triển của rầy nâu.

Thành trùng cũng sống ở dưới gốc lúa chung với ấu trùng vừa nở ra. Vì con cái có tuổi thọ dài nên trên một gốc lúa có thể thấy cả ấu trùng lẫn thành trùng ở ngoài đồng ruộng vì con cái vẫn chưa chết và có khi còn đang tiếp đẻ trứng. Điều này đôi khi bị nông dân lầm lẫn và cho rằng có sự “gối lứa”. Vào ban đêm, con cái có cánh dài thường bò lên ngọn lá lúa và tìm cách bay ra ngoài để phân tán nên thường thấy chúng đeo bám trên nóc lồng nuôi rầy.

 

Bảng 1. Các giai đoạn sinh trưởng và vòng đời của rầy nâu N. lugens trên giống lúa Jasmine 85 được khảo sát trong điều kiện nhà lưới (23-320C, 65-85%). 2007.







* Cả lọai cánh ngắn lẫn cánh dài theo tỉ lệ đã vũ hóa. 

  Rầy đực thường vũ hóa sớm hơn so với rầy cái khoảng một ngày nên đã sẵn sàng để giao phối khi rầy cái vừa vũ hoá. Chúng thường tập trung thành từng cặp và tiến hành giao phối. Con cái dẫn dụ con đực bằng cách rung bụng và con đực thường ở phía dưới để tiến lên giao phối với con cái. Thời gian giao phối kéo dài khoảng 1-2 phút và con cái có thể giao phối nhiều lần với con đực.

Thời gian trước khi đẻ của rầy cái cánh ngắn từ 2–3 ngày (trung bình 2,52 ngày) và rầy cái cánh dài từ 2–6 ngày (trung bình 3,53 ngày). Số trứng của mỗi con cái cánh ngắn đẻ từ 189–969 trứng (trung bình 618,84 trứng) và cái cánh dài từ 111–938 trứng (trung bình 573,04 trứng). Tuy nhiên, thời gian đẻ trứng và tuổi thọ của rầy cái cánh ngắn lại ngắn hơn rầy cái cánh dài. Thời gian đẻ trứng của rầy cái cánh ngắn từ 2–14 ngày (trung bình 9,9 ngày) và cái cánh dài từ 2–21 ngày (trung bình 11,42 ngày) (Bảng 2). Số trứng rầy cái đẻ tăng dần và đạt cao nhất ở ngày thứ 7 với số trứng đẻ cao nhất trong ngày của một con cái cánh ngắn là 69 trứng và của con cái cánh dài là 62 trứng.

 Bảng 2. Tuổi thọ và khả năng đẻ trứng của rầy nâu cái có hai dạng cánh trên giống lúa Jasmine 85 trong điều kiện nhà lưới (23-320C, 65-85%).

Đặc điểm của rầy cái

Con cái cánh ngắn

Con cái cánh dài

Trung bình

Biến thiên

Trung bình

Biến thiên

Tuổi thọ ( ngày)

Thời gian trước đẻ (ngày)

Thời gian đẻ (ngày)

Số trứng đẻ/cái ( trứng)

       16,29

         2,52

       9,90

   618,84

  (10-21)

    (2-3)

    (2-14)

(189-969)

      12,17

        3,53

      11,42

    573,04

     (6-21)

     (2-6)

     (2-16)

(111-938)

Tóm lại, rầy nâu có vòng đời (hay chu kỳ sinh trưởng được tính từ trứng đến trứng) trung bình là 22,38 ngày (21-26 ngày), dưới một tháng. Vòng đời nầy thường thay đổi theo điều kiện của môi trường, nhưng ở ĐBSCL thì quan trọng nhất là tính kháng rầy của các giống lúa. Ở đây giống Jasmine 85 được coi là rất nhiễm rầy (và gia phả cũng không có đề cập đến gen kháng) nên thời gian phát triển của ấu trùng là 12,38 ngày (11-16 ngày) có thể coi là thuộc loại nhanh nhất và tuổi thọ của thành trùng cái là 16,29 ngày (10-21 ngày) được coi là dài nhất. Kết quả này cũng khá phù hợp với Mochida và Okada (1979) là thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành lâu khoảng 20 ngày ở 27-280C và ngắn nhất là trên giống nhiễm, tương tự như kết quả của Viện Bảo Vệ Thực Vật (1980) nhưng không được biết giống lúa dùng làm cây ký chủ, và cũng phù hợp với vòng đời tổng quát được trình bày trong Sổ tay Hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp & PTNT (2006).

 1.2. Ảnh hưởng của giai đoạn sinh trưởng của cây lúa đến sự thay đổi dạng cánh của rầy nâu trưởng thành


 Hình 2 cho thấy, ở hai giai đoạn sinh trưởng khác nhau (mà độ dinh dưỡng vẫn còn đầy đủ trong cây lúa), tỉ lệ sống sót cho đến trưởng thành của ấu trùng tuổi 1-2 vẫn tương đương nhau là 78% ở cây lúa 30 ngày sau khi gieo và 79% ở cây lúa đã trổ, cũng tương tự như tỉ lệ giữa con đực (43 và 40%) và con cái (57 và 60%). Tuy nhiên, về việc hình thành dạng cánh thì khác nhau hoàn toàn: dạng cánh ngắn (brachypter) chiếm đa số tuyệt đối ở cây lúa non đang trong giai đoạn đẻ nhánh (81 so với 14%) và ngược lại là dạng cánh dài (macropter) ở cây lúa đã trổ (86 so với 19%). Các quan sát cho thấy vào ban đêm sau khi trưởng thành rầy nâu cánh dài bay lên chóp lồng và tìm cách thoát ra để bỏ cây ký chủ và di cư đi tìm nguồn thức ăn mới, thay vì ở lại như rầy cánh ngắn. Kết quả này cũng phù hợp với tổng kết trước đây của Dyck et al. (1979).

 1.3. Khả năng sinh sản của rầy nâu vào đèn

Kết quả trình bày trong Bảng 3 cho thấy rầy nâu cái vừa bắt ở bẫy đèn vào nuôi trên cây lúa Jasmine ở 30 ngày tuổi cho thấy: nếu nuôi riêng không có con đực thì chúng vẫn có thể sống (trung bình 10,87 ngày) và đẻ trứng tương đương hoặc cao hơn khi nuôi chung với con đực (cũng vừa bắt từ bẫy đèn). Ngược lại, các con cái đó đẻ trứng nhưng số rầy non nở ra của mỗi con cái rất ít (38,67 trứng) so với rầy cái được nuôi chung và bắt cặp với con đực (360,48 trứng). Do đó, có thể nghi ngờ số ấu trùng nở ra của con cái không có con đực ở đây là do trứng đã có sẵn trên cây lúa trước khi đưa vào làm thí nghiệm (?). Như vậy, có thể kết luận rằng rầy nâu vào đèn chưa bắt cặp và chưa đẻ trứng. Kết quả này phù hợp với nhận xét là rầy chưa đẻ trứng (preovipositional) khi di cư hay vào đèn của Dyck et al. (1979). Nhiều tác giả khác trong và ngoài nước đã cho rằng rầy nâu sau khi vào đèn vẫn còn tiếp tục đẻ trứng (Bùi Văn Ngạc và ctv., 1980; Viện Bảo Vệ Thực Vật, 1980).

 Bảng 3. Khả năng sống và sinh sản của rầy nâu cái vào đèn trong điều kiện nhà lưới (23-320C, 65-85%). 2007.

Khả năng sống và sinh sản của rầy cái vào đèn

Con cái vào đèn được nuôi

Chung với con đực

Không có con đực

Tuổi thọ (ngày)

          9,60       (2-18)

       10,87       (3-19)

Thời gian bắt đầu đẻ (ngày)

          3,42       (3-4)

         3,39       (3-4)

Tỉ lệ con cái đẻ trứng (%)

        76,67     (69-82)

       90,00     (66-94)

Số ấu trùng nở ra/con cái

      360,48   (205-456)

       38,67*   (27-50)*

Tỉ lệ trứng nở (%)

85,51

10,03

* Trung bình của số ấu trùng nở ra từ 3 của 30 con cái được khảo sát.

 

2. Phân tích chu kỳ phát triển của mật số rầy nâu trong năm

2.1. Diễn tiến mật số rầy nâu vào bẫy đèn theo các tháng trong năm

Diễn tiến mật số rầy nâu trong mỗi tháng của một năm - kể từ tháng 11/2006 cho đến tháng 10/2007- tại các tỉnh ĐBSCL đã được thu thập và vẽ thành đồ biểu. Số liệu của rầy vào đèn tại mỗi tỉnh được chọn ở địa điểm có mật số cao nhất và được ghi nhận thường xuyên trong suốt tháng (các khoảng đứt của đường biểu diễn là do các ngày mưa nên không lấy được số liệu). Đặc biệt là trong tháng 11 và 12, số liệu rầy vào đèn ở tp. HCMinh cũng được trình bày để minh chứng cho nguồn gốc di chuyển của rầy vào đèn. Phân tích các số liệu này đạt kết quả như sau:

a. Hình 3 (A) trình bày số liệu trong tháng 11, 12 (2006) đến tháng 2 (2007) cho thấy mỗi tháng có một cao điểm của rầy vào đèn rất rõ nét ở tại mỗi tỉnh. Hình 3(B) cho thấy trong 4 tháng đầu năm ở thành phố Cần Thơ có cao điểm của tháng sau xuất hiện sớm hơn tháng trước khoảng 5 ngày (biến thiên từ 3 đến 8 ngày). Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu về vòng đời của rầy nâu trên giống nhiễm trong điều kiện nhà lưới là 20-24 ngày cho con cái có cánh dài.


 Hình 3. Diễn tiến mật số rầy nâu vào bẫy đèn từ tháng 11.2006 đến 2.2007 ở một số tỉnh có mật số rầy cao ở đồng bằng sông Cửu Long (cột A) và trong 4 tháng đầu năm 2008 (B) ở Cần Thơ.

Ghi nhận cụ thể cho biết trong tháng 11/2006 đỉnh cao xuất hiện vào cuối tháng và kéo dài cho tới đầu tháng 12, nên cuối tháng 12 không có đỉnh cao. Điều này đặc biệt phù hợp cho năm 2006 khi vụ ĐX 2006-07 đã tổ chức gieo sạ đợt 1 “né rầy” một cách hiệu quả khi mật số rầy nâu vào đèn rất cao; sau đó chờ gieo sạ để né rầy đợt 2 vào cuối tháng 12 thì  mật số rầy vào đèn lại rất thấp.

Đỉnh cao trong các tháng này rõ nét vì có thể chúng đến từ lúa mùa (như Nàng Thơm Chợ Đào) của vùng quanh thành phố HCM và tỉnh Long An theo hướng gió mùa Đông Bắc (gió bấc). Lúa mùa chịu ảnh hưởng của đoản quang kỳ nên trổ bông đồng loạt vào lúc này làm cho rầy nâu phát sinh dạng cánh dài để di cư theo gió. Đỉnh cao vượt bậc trong đồ biểu của các tháng 11 và 12/2006 là của huyện Củ Chi (tp.HCM).

Gió bấc bắt đầu thổi từ cuối tháng 11 cho đến đầu tháng 3 năm sau, ngay khi vừa bắt đầu gieo sạ và kéo dài trong suốt vụ lúa ĐX ở ĐBSCL. Lúc này đã hết mùa mưa bảo nên hướng gió rất ổn định, xuôi chiều và tốc độ tăng dần lên. Gió thổi cả ban đêm nên rất thuận tiện cho sự di cư của rầy nâu vì chúng thường bắt đầu vào lúc trời vừa chạng vạng tối và tốc độ di chuyển tuỳ thuộc tốc độ gió, có khi lên đến 20-30 km/giờ nên chỉ trong một đêm chúng có thể đến được hầu hết các tỉnh của ĐBSCL. 

b. Kể từ tháng 5 trở đi đỉnh cao của rầy cũng xuất hiện vào cuối tháng nhưng không đồng loạt mà kéo dài ra trong khoảng 10-14 ngày (do giới hạn số trang viết nên chỉ được cung cấp khi cần). Lý do có thể là lúc này rầy đến từ lúa HThu gieo sạ không đồng loạt, rải dài từ lúa XHè gieo sạ khoảng tháng 3 theo hệ thống canh tác ba vụ (vẫn còn rất phổ biến). Càng về sau (tháng 6 trở đi) thì các đỉnh cao càng rải dài ra do các vụ lúa XH, HT, TĐ nối tiếp nhau.

Tóm lại, mỗi tháng có một đỉnh cao của rầy vào đèn, cách tháng trước khoảng 25 ngày. Ngày xuất hiện chính xác của các đỉnh cao này có lẽ tuỳ thuộc nhiều nhất vào trà lúa đang gieo sạ trên diện rộng ở nơi đó, nên có sự chênh lệch giữa các địa phương là do khác nhau về ngày xuống giống.

 

 Xem tiếp phần 2

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 271355 visitors (954668 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=