thnlscantho-3
  Bệnh tai xanh ở heo
 
04/9/2012

 
BỆNH TAI XANH Ở HEO
( HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP
VÀ SINH SẢN Ở HEO )
          ( Porcine Reproductive and Respiratory
        Syndrome – PRRS)
 
                                                    KS. Đặng Hoàng Minh
 
 
     Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Mỹ vào khoảng năm 1987, vào thời điểm đó, do chưa xác định được căn nguyên bệnh nên được gọi là “bệnh bí hiểm ở heo” (MDS), một số người căn cứ theo triệu chứng gọi là “ bệnh tai xanh ở heo”. Sau đó bệnh lây lan rộng trên toàn thế giới và được gọi bằng nhiều tên: Hội chứng hô hấp và vô sinh ở heo (SIRS), bệnh bí hiểm ở heo (MDS) như ở Châu Mỹ hay Hội chứng hô hấp và sẩy thai ở heo (PEARS), Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo (PRRS), bệnh tai xanh như ở Châu Âu. Năm 1992, Hội nghị quốc tế về bệnh nầy được tổ chức tại St.Paul, Minnesota đã nhất trí dùng tên PRRS và được Tổ chức Thú y thế giới công nhận.
    Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện vào năm 1997 trên đàn heo nhập từ Mỹ (10/51 con có huyết thanh dương tính). Các nghiên cứu về bệnh trên những trại heo giống tại các tỉnh phía Nam, tỷ lệ heo có huyết thanh dương tính với bệnh rất khác nhau, từ 1,3% cho tới 68,29%. Ở các nước khác, tỷ lệ đàn trong vùng bệnh có huyết thanh dương tính rất cao, như ở Anh là 60-75%, Mỹ là 36% …
    Tuy nhiên, mãi tới đầu năm 2007 bệnh phát thành dịch ở 7 tỉnh phía Bắc, sau đó lan nhanh qua một số tỉnh miền Trung và miền Nam gây tổn thất rất lớn về kinh tế.
Điển hình dịch tai xanh ở heo xuất hiện ở tỉnh Lâm Đồng vào năm 2008, với một số đặc điểm dịch tể như sau:
 
    - Bắt đầu dịch từ ngày 1/4  đến ngày 14/5/2008.
    - Tổng số hộ có dịch: 200.
    - Tổng số heo bệnh: 1.376/ 2.272 ( 60,56%)
    Chỉ có 1/200 nông hộ (0,5%) là chăn nuôi trang trại.
    - Heo nái, tỷ lệ mắc bệnh 19,8%, chết 18,8%.
    - Heo con theo mẹ: tỷ lệ bệnh 55,3%, chết 34,4%.
    - Heo hậu bị (choai); tỷ lệ bệnh 77,7%, chết 33,1%.
    - Heo thịt: 13,8%, chết 8,3%.
 
 
                               Biểu đồ dịch bệnh PRRS ở Lâm Đồng
                     
                            
1. TÁC NHÂN GÂY BỆNH
 
    Lúc đầu, người ta cho rằng một số virus như Parvovirus, virus giả dại (Pseudorabies), virus cúm heo, Porcine Enterovirus, dặc biệt virus gây viêm nảo- cơ tim (Encephalomyocarditis) gây nên. Sau đó, người ta đã xác định được một loại virus mới, được gọi là virus Lelystad, phân lập được từ các ổ dịch ở Hà Lan, là nguyên nhân nhân chính gây ra hội chứng trên. Virus có cấu trúc ARN, thuộc họ Togaviridae, gần giống với virus gây viêm khớp ở ngựa (EAV), Lactic Dehydrogenase virus của chuột (LDH) và virus gây sốt xuất huyết trên khỉ (SHF).
    Virus rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở vùng phổi. Bình thường, đại thực bào sẽ tiêu diệt tất cả các vi khuẩn, virus xâm nhập vào cơ thể, riêng đối với virus PRRS, virus có thể nhân lên trong đại thực bào, sau đó phá hủy và giết chết đại thực bào ( tới 40%). Do đó, khi đã xuất hiện trong đàn heo, chúng thường có xu hướng duy trì sự tồn tại và hoạt động âm thầm. Đại thực bào bị giết sẽ làm giảm chức năng của hệ thống bảo vệ cơ thể và làm tăng nguy cơ bị nhiểm các bệnh kế phát. Điều nầy, có thể thấy rõ ở những đàn heo vỗ béo hoặc chuẩn bị giết thịt, có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi.  
  
    2. ĐƯỜNG TRUYỀN LÂY
 
    Virus có trong dịch mũi, nước bọt, tinh dịch (trong giai đoạn nhiễm trùng máu), phân, nước tiểu và phát tán ra môi trường. Ở heo mẹ mang trùng, virus có thể lây nhiễm cho bào thai từ giai đoạn giữa thai kỳ trở đi  và virus cũng được bài thải qua nước bọt và sữa. Heo trưởng thành có thể bài thải virus trong vòng 14 ngày, trong khi đó heo con và heo hậu bị bài thải virus tới 1- 2 tháng.
    `Virus có thể phát tán thông qua các hình thức: vận chuyển heo mang trùng, theo gió (có thể đi xa đến 3 km), bụi, bọt nước, dụng cụ chăn nuôi và dụng cụ bảo hộ lao động nhiễm trùng, thụ tinh nhân tạo và có thể do một số loài chim hoang.
 
    3. TRIỆU CHỨNG
 
    Triệu chứng bệnh thể hiện cũng rất khác nhau, theo ước tính, cứ 3 đàn lần đầu tiên tiếp xúc với mầm bệnh thì có 1 đàn không có biểu hiện, 1 đàn có biểu hiện mức độ vừa và đàn còn lại biểu hiện ở mức độ nặng. Lý do cho việc nầy vẩn chưa có lời giải, tuy nhiên, với nhưng đàn khỏe mạnh thì mức độ bệnh cũng giảm nhẹ hơn, và cũng có thể do virus tạo nhiều biến chủng với độc lực khác nhau. Thực tế, nhiều đàn có huyết thanh dương tính nhưng không có dấu hiệu lâm sàng.   
- Heo nái giai đoạn cạn sữa
Trong tháng đầu tên bị nhiểm virus, heo biếng ăn từ 7-14 ngày (10-15% đàn), sốt 39-40oC, sẩy thai thường vào giai đoạn cuối ( 1-6%), tai chuyển màu xanh trong khoảng thời gian ngắn (2%), đẻ non (10-15%), động đực giả ( 3-5 tuần sau khi thụ tinh), đình dục hoặc chậm động dục trở lại sau khi đẻ, ho và có dấu hiệu của viêm phổi.
 
      
                                Đẻ non do PRRS
 
 
 
 
     
                       PRRS Sẩy thai muộn ở nái
 
- Heo nái giai đoạn đẻ và nuôi con
Biếng ăn, lười uống nước, mất sữa và viêm vú ( triệu chứng điển hình, đẻ sớm 2-3 ngày, da biến màu, lờ đờ hoặc hôn mê, thai gổ (10-15% thai chết trong 3-4 tuần cuối của thai kỳ), heo con chết ngay sau khi sanh (30%), heo con yếu, tai chuyển màu xanh (<5%) và duy trì trong vài giờ.
 
         
                                Đẻ non thai chết
  
Hiện tượng cấp tính kéo dài trong đàn tới 6 tuần, điển hình là đẻ non, tăng tỷ lệ thai chết và yếu, tăng số thai gỗ, chết lưu trong giai đoạn 3 tuần cuối trước khi sanh, ở một vài đàn con số nấy có thể tới 30% tổng số heo con sinh ra. Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70% ở tuần thứ 3-4 sau khi xuất hiện triệu chứng. Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4-8 tháng trước khi trở lại bình thường. Ảnh hưởng dài lâu của PRRS tới việc sinh sản rất khó đánh giá, đặc biệt với những đàn có tình trạng sức khỏe kém. Một vái đàn có biểu hiện tăng số lần phối giống lại, sẩy thai.
Ảnh hưởng của PRRS tới sản xuất như sau:
+ Tỷ lệ sinh giảm 10-15% ( 90% đàn trở lại bình thường.
+ Giảm số lượng con sống sót sau sinh, tăng lượng con chết sau sinh.
+ Heo hậu bị có thể sinh sản kém, đẻ sớm, tăng tỷ lệ sẩy thai (2-3&), bỏ ăn sau giai đoạn sinh con.
- Heo đực giống
Bỏ ăn, sốt, đờ đẩn hoặc hôn mê, giảm hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém và cho heo con sinh ra nhỏ.
- Heo con cai sữa và heo hậu bị
Chán ăn, ho nhẹ, lông xác xơ …tuy nhiên, ở một số đàn có thể không có triệu chứng. Ngoài ra, trong trường hợp ghép với bệnh khác thấy viêm phổi lan tỏa cấp tính, hình thành nhiều ổ abcès, thể trạng gầy yếu, da xanh, tiêu chảy, ho nhẹ, hắt hơi, chảy nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ chết có thể tới 15%.
 
         
                          Hô hấp sớm ở heo con theo mẹ
 
 
 
 
 
 
          
                    Rối loạn hô hấp và tiêu chảy sau cai sữa
4. BỆNH TÍCH
 
Viêm phổi hoại tử và thâm nhiểm đặc trưng bởi các đám phù nề, đặc trên các thùy phổi. Thùy phổi bị bệnh có màu xám đỏ, có mủ và đặc chắc (xơ hóa). Trên mặt cắt ngang của thùy bệnh lồi ra, khô.
             
            
 



          Nhiều trường hợp viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh.
 
          
       Lách nhồi huyết, bàng quang căng phòng tích dịch nâu nhạt
 
Về tổ chức phôi thai học, thường thấy dịch thẩm xuất và hiện tượng thâm nhiểm, trong phế nang chứa đầy dịch viêm và đại thực bào, một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồ nhiều nhân.
              
Một bệnh tích đặc trưng nữa là sự thâm nhiểm của tế bào phế nang loại II (Pneumocyte) làm cho phế nang nhăn lại, thường bắt gặp đại thực bào bị phân hủy trong phế nang.
 
5. CHẨN ĐOÁN
 
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích mô tả ở trên. Trong phòng thí nghiệm, có thể dùng phản ứng Immunoperoxydase một lớp (IPMA) để phát hiện kháng thể 1-2 tuần sau khi nhiểm, phản ứng kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA) kiểm tra kháng thể IgM trong 5-28 ngày sau khi nhiểm và kiểm tra kháng thể IgG trong 7-14 ngày sau khi nhiểm, phản ứng ELISA phát hiệnh kháng thể trong vòng 3 tuần sau khi tiếp xúc. Ngoài ra, phương pháp PCR phân tích mẩu máu ( được lấy trong giai đoạn đầu của thể cấp tính) để xác định sự có mặt của virus, đây là phản ứng tương đối nhạy và chính xác.
 
6. ĐIỀU TRỊ
 
Hiện nay, vẩn chưa có thuốc đặc trị để điều trị bệnh nầy. có thể sử dụng một số thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu ngăn ngừa nhiểm bệnh kế phát.
 
7. BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG DỊCH
 
Hiện nay, dịch lại xuất hiện một số địa phương và đang diển biến hết sức phức tạp. Chúng tôi khuyến cáo một số biện pháp phòng chống như sau
- Đối với các địa phương chưa có dịch
Thường xuyên theo dõi sức hỏe đàn heo trong các cơ sở chăn nuôi heo sinh sản, để sóm phát hiện heo có dấu hiệu lâm sàng của bệnh tai xanh, cách ly xử lý kịp thời và gửi mẫu bệnh phẩm đi xét nghiệm.
Tiêm vaccin phòng bệnh tai xanh cho đàn heo trong cơ sở chăn nuôi chưa có lưu hành bệnh. Trước khi tiêm cần tham khảo ý kiến ngành thú y của tỉnh để biết trong khu vực  trước đó có chủng virus nào gây bệnh ( châu Âu hoặc châu Mỹ) , để lựa chọn vaccin thích hợp. Bởi vì vaccin không tạo được miễn dịch chéo giữa chủng tế bào tạo vaccin và chủng gây bệnh cho heo ở trong vùng.
Để loại trừ các bệnh kế phát do vi khuẩn ở heo, tất cả đàn heo phải được tiêm vaccin phòng 4 bệnh đỏ (dịch tả heo, tụ huyết trùng, đóng dấu heo và phó thương hàn). Trong điều kiện cần thiết có thể phải tiêm vaccin phòng một số bệnh đường hô hấp ( bệnh suyễn heo, bệnh viêm phổi và màng phổi ở heo).
Khi nhập heo giống phải mua heo từ các cơ sở chăn nuôi và vùng không có dịch tai xanh. Heo mới mua về phải nuôi cách ly ít nhất 3-4 tuần lễ, không có dấu hiệu lâm sàng của bệnh tai xanh cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, mới cho nhập đàn.
Đảm bảo thức ăn đủ chất dinh dưỡng và nguồn nước sạch cho heo, giúp heo có sức đề kháng với virus bệnh tai xanh cũng như các bệnh khác, hạn chế mắc các bệnh truyền nhiễm.
Giữ chuồng trại va khu chăn thả heo luôn khô sạch, thoáng mát mùa hè, kín ấm mùa đông và phải phun thuốc sát trùng định kỳ 2 tuần/lần để diệt mầm bệnh.
Khi xuất nhập heo cần phải thực hiện kiểm dịch thú y nghiêm ngặt.
 
- Biện pháp chống dịch khi có dịch xảy ra
Các hộ chăn nuôi gia đình và chăn nuôi trang trại phải thống kê số heo bệnh, heo chết báo cáo với chính quyền và thú y địa phương, để xử lý theo đúng lệnh công bố dịch và hướng dẩn phòng chống bệnh tai xanh của Cục Thú y ( tiêu hủy toàn bộ heo bị bệnh) và xin hỗ trợ thiệt hại của nhà nước. Trong trường hợp gửi mẩu bệnh phẩm đi xét nghiệm mà chưa có kết quả, nhưng nếu heo có dấu hiệu lâm sàng bệnh tai xanh thì vẫn phải tiêu hủy.
Chính quyền và các tổ chức thú y địa phương tổ chức bao vây ổ dịch, thành lập các chốt kiểm dịch, ngăn cấm không cho vận chuyển heo khỏi ổ dịch và cũng không cho mang heo từ ngoài vào ổ dịch. Các hộ chăn nuôi gia đình và trang trại phối hợp với chính quyền và thú y thực hiện nghiêm túc biện pháp nầy.
Không bán chạy heo ra ngoài, không mổ heo và bán thịt heo trong vùng dịch khi chưa công bố lệnh hết dịch.
Cách ly đàn heo khỏe để nuôi dưỡng, chăm sóc tốt và tổ chức tiêm thuốc trợ sức, nâng cao sức đề kháng của đàn heo với bệnh.
Tổ chức làm vệ sinh triệt để chuồng trại và khu chăn thả đã có heo bị bệnh và phun thuốc sát trùng 2 lần/tuần trong suốt thời gian có dịch.
Tổ chức tiêm vaccin phòng bệnh tai xanh ở các vùng chưa có dịch, nhưng bị uy hiếp, nếu có thể được.
Tuyên truyền về bệnh tai xanh và các biện pháp phòng chống trên các phương tiện truyền thông , để người chăn nuôi nâng cao ý thức áp dụng các biện pháp chống dịch.
Chỉ nuôi heo trở lại khi đã công bố lệnh hết dịch và để trống chuồng 4 tuần, đồng thời phun thuốc sát trùng theo đúng qui định.   
 
 
 
 
 
 
 
       
 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 252483 visitors (923222 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=