thnlscantho-3
  Về đất mũi
 
25/4/2012

VỀ ĐẤT MŨI

 

Mong Phước Minh

 

Đã vài lần đi Cà Mau, nhưng tôi và bà xã chưa một lần đến đất Mũi, cái chỏm nhọn cuối cùng làm nên một đất nước đẹp xinh hình chữ S. Cho nên việc tìm đến Đất Mũi vẫn là nỗi khát khao của chúng tôi. Trước Tết tôi có nghe nói đến con đường Nam Sông Hậu, nối liền Cần Thơ với Bạc Liêu đã hoàn thành, thông thoáng hơn Quốc lộ 1A cũ, cho nên việc “đi Cà Mau, đến Đất Mũi băng cung đường mới Nam Sông Hậu” trở thành một lựa chọn lý thú của chúng tôi trong thời điểm này. Nhưng xin hãy bắt đầu bằng một chút …. đi ngược về phía Bắc.

 



 

Nước Việt Nam ta trải dài từ Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mau. Bài địa lý học từ lúc còn ở “trường làng” đã dạy cho ta như thế và nó đã ăn sâu trong đầu của chúng ta từ những năm tháng xa xưa ấy. Thực sự điểm cao nhất trên bản đồ địa lý là Lủng Cú, thuộc tỉnh Hà Giang. Ải Nam Quan thì thuộc tỉnh Lạng Sơn, nằm ở một vĩ độ thấp hơn, đó chỉ là khởi đầu của con đường Xuyên Việt từ Bắc vào Nam, là cửa ngỏ từ hàng ngàn năm trước của ta thông sang Tàu, là nơi Sứ bộ hòa bình 2 bên qua lại và cũng là nơi chính yếu mà quân xâm lược Tàu đã nhiều lần vượt qua để thôn tính nước ta.

 



 

Nhạc sĩ Phạm Duy đã để lại cho đời một tuyệt phẩm,  đó là Trường ca “Con đường cái quan”.

 

Tôi đi từ ải Nam Quan sau vài ngàn năm lẻ

Chia đôi một họ trăm con đã lên đường

Năm mươi người ngược núi rừng

Ðã dựng vòng biên ải

 Năm mươi người trẩy theo sông tới khơi chừng
Tôi theo người vượt quan san
Ơi người ơi Ơi người ơi
Vẽ lối mòn gìn giữ quê hương ngăn đường giặc Hán
Tôi chưa về Ải Chi Lăng
Ơi người ơi Ơi người ơi
Dưới chiến bào người thấy băn khoăn thương ai đầu nguồn. . .

 

Đáng lý tôi chỉ trích 2 câu đầu thôi, nhưng như thế thì rất thiếu sót, nên tôi xin chép lại toàn bộ “đoản khúc 2” của bản trường ca,  để thấy rằng Con đường cái quan đã không những bắt đầu từ Ải Nam Quan với cột mốc địa dư cụ thể mà còn khởi phát từ thời Lạc Long Quân huyền thoại!

 

Trước năm 2009, tôi vẫn còn nghĩ Ải Nam Quan đang nằm đâu đó ở Miền Bắc và mong rằng sẽ có ngày đến thăm.

 

Năm 2008, tôi và bà xã đã theo một tour du lịch xuyên Việt bình dân, có tới cửa khẩu Hữu Nghị, chụp vài tấm ảnh kỷ niệm trên đường ranh biên giới. Đâu ngờ rằng mình đang đứng cách Ải Nam quan không xa, phía Bắc đường ranh này! Và bây giờ bỗng cảm thấy tội nghiệp cho nhạc sĩ Phạm Duy, đã viết lên một Ải-Nam-Quan-không-có-thật để làm nên bản trường ca bất hủ! Và buồn thay cho con đường cái quan không còn Ải Nam Quan! Dĩ nhiên lịch sử sẽ rất sòng phẳng và công bình trong ngày phán xét tương lai…. .

 

Như vậy, chúng tôi đã “xém” tới được “Ải Nam Quan” mà không hay. Còn Mũi Cà Mau, nằm ở cực Nam tổ quốc, không thằng Tàu nào có thể chiếm được, vậy mà không đến thăm, mai mốt theo Ông Bà thì chỉ biết tự trách mình thôi. Cho nên, dự định một chuyến đi bụi về đất Mũi nó cứ “lộn xộn” trong lòng.

 

Ngày 17 tháng 2 năm 2012, gia đình bên Ngoại của bà xã có tổ chức một buổi họp mặt gia tộc tại quê ở Cần thơ. Vậy là chúng tôi chuẩn bị con “chiến mã Deahan 2 bánh Đại Hàn” và lên đường lúc 6h30 sáng về dự họp mặt rồi…. đi tiếp Cà Mau!

 

Cái Răng ,  Ba Láng , Vàm Xáng ,  Phong Điền

Anh thương em thì cho bạc cho tiền, ….

Đừng cho lúa gạo, xóm riềng cười chê!

 

Đó chính là Ba Láng của ca dao mà nhiều người chúng ta đã biết. Ông Ngoại của bà Xã là Ông Trưởng Mót, cũng có chút tiếng ở đây, đã từng là học sinh trường Chasseloup Laubat Sài Gòn…. nhà nằm bên kia sông Ba Láng.

 

Con sông này nhỏ, rộng khoảng 200 mét, trước năm 1975 là vùng xôi đậu, bên này sông là “Quốc gia” bên kia sông là “lộn xộn” đi chơi bên đó lạng quạng có khi bị “hỏi thăm”, bởi cả 2 phía. Vì lở quen Bà xã nên tui cóc sợ, rất nhiều lần “qua sông”; may mắn chưa bị hỏi thăm lần nào.

 

Năm 1980, “sa cơ lỡ vận” vì vượt biên bất thành, sau khi ra tù chúng tôi dắt thằng con 5 tuổi về đây tá túc. Có lần đi buôn lậu vải từ Châu Đốc về Sài gòn, sau khi hoàn thành nhiệm vụ (bán mấy cây vải tại chợ An Đông), lãi được ít tiền, ra Xa cảng Miền Tây, về Cần Thơ, tới nơi thì đã quá nửa đêm, tui phải “quá giang” xe rác  về tới cây số 9, rồi lội ra mé sông Ba Láng. Giờ này đâu còn ghe xuồng gì, tui cởi áo quần, vo lại một cục, dấu đôi dép dưới bụi dừa nước rồi cầm quần áo,  lội qua sông. Ba Láng, với tôi thật nhiều điều đáng nhớ.

 

Bây giờ Sông Ba Láng đã xây cầu, nằm trên tuyến đường Cần thơ – Hậu Giang, tôi không còn phải lội nữa! Xe gắn máy chạy thẳng về tới nhà Ngoại.

 

Đường Nam Sông Hậu (NSH):

13 giờ 30 chiều thì xong cuộc nhậu, tui nghĩ thêm 30 phút cho “bay” bớt lon bia, rồi cùng bà xã lên đường. Chạy trở ngược lại cầu Cần Thơ rồi quẹo phải xuống hướng cảng Cái Cui, đó là nơi bắt đầu đường Nam Sông Hậu. Một khu đô thị mở ra với hàng dãy nhà nhiều tầng, chạy dọc theo con đường mới . Tôi thật sự ngạc nhiên khi nhớ lại nơi này nhiều năm trước còn là vùng đất của những con rạch nhỏ với ô rô, cóc kèn, dừa nước…. Nhưng cũng tự hỏi đang có bao nhiêu người đến sống trong những khu dân cư cao cấp đó? Hay lại phải bỏ hoang, kéo theo sự sụp đổ của các đại gia? Mong sao cho “tai qua nạn khỏi” vì đại gia ngoẻo thì dân nghèo chắc cũng ngủm theo!

 



 

Đường NSH không rộng, tương đối tốt và đặc biệt rất ít xe, nên lưu thông thấy thật thảnh thơi. Con đường chạy song song với dòng sông Hậu, nhưng cách một khoảng vườn cây, nên rất mát mẻ. Dọc đường tôi thấy có nhiều trái cây, xoài và vú sửa đang chờ lái đến chở.

 

Con Deahan lần lượt qua Đại Ngãi, Long Phú bây giờ đã khác xưa. Năm 1978  ruộng lúa Miền Tây gặp dịch rầy nâu. Thầy trò Đại học Cần thơ tạm nghĩ để xuống đồng diệt rầy. Tôi cùng một số đồng nghiệp phụ trách khu vực Long Phú, Lịch Hội Thượng.

 

Từ Cần thơ muốn đi Long Phú phải  theo đường bộ xuống Sóc trăng rồi ra Long Phú hoặc ngồi tàu đò cả ngày mới tới. Từ Long phú xuống Lịch Hội Thượng thì đi bằng tắc ráng hoặc…. lội bộ xuống Ngang Rô, Bãi Giá rồi qua. Đi tắc ráng thì như “cởi ngựa xem hoa” nên tôi bèn lội bộ. Đây là thời kỳ “nhạy cảm” ở những vùng ven biển như nơi đây bởi đang trong giai đoạn nở rộ “vượt biên”. Tôi đi công tác diệt rầy nên chẳng rắc rối gì. Nhưng cũng không ít cặp mắt địa phương nhìn theo “cái thằng cha vác bị” lạ mặt đang lang thang trên đường mòn hoặc bì bõm lội qua rạch cạn. Dĩ nhiên nhờ cái sự đi này mà tui thuộc đường đi nước bước nơi đây. Và chính cái sự thuộc đó nó đã hại tui trong cuộc vượt biên một năm sau .

 

"Có đường ta cứ đi, cứ đi rồi sẽ tới!...."

 

Ngày 9 tháng 4 năm 1979, hai vợ chồng tôi cùng thằng con trai 4 tuổi, ngồi vỏ tắc ráng từ Thốt Nốt xuống Bãi Giá (cửa Trần Đề), để đến điểm hẹn lên “cá lớn”. Trên vỏ còn có 6 người khác, gồm Bùi hữu Dũng, sinh viên năm 2 Sư Phạm Văn (lái tắc ráng), Hải là em, con chú tôi, người Sài Gòn, Trung sĩ Hải quân, cô Ngay sinh viên Sư Phạm Cần thơ là em ruột Thầy Nhiều (Thổ nhưỡng) và 2 vợ chồng mới cưới ở Châu Đốc.

 

Sông Hậu rộng mênh mông làm cho chiếc tắc ráng thiệt mỏng manh. Tôi nhìn thằng con nhỏ ngơ ngác trong cái vô tư mà lòng ngổn ngang lo lắng. Bên phía bờ Bắc, chúng tôi nhìn thấy “cá lớn” đang song song xuôi về cửa biển. Càng về chiều càng gần Bãi Giá, dòng Sông càng rộng. Càng về chiều, càng gần biển,  gió và sóng càng dữ dội hơn. Thằng con nhỏ thỉnh thoảng hỏi mình đi dâu vậy Ba, tôi chỉ biết trả lời con là đi chơi. Thiệt sự, bây giờ tôi không còn nhớ gì về mặt mày của con tôi lúc đó, nhưng chắc là nó không thích thú gì cái-chuyến-đi-chơi-đầy-nắng-gió, cả ngày chưa tới đâu. Và còn sợ nữa. Nhưng khi đó, tôi chỉ còn “nhắm mắt theo lao”!

 

Khoảng hơn 18 giờ thì tới Bãi Giá, theo kế hoạch, Dũng, người lái tắc ráng, lủi mạnh vào rừng dừa nước nhập nhoạng tối. Tắt máy và chờ đợi. Bây giờ thì 2 vợ chồng tui lại lo quơ muỗi cho con. Trời tối rất nhanh, nhưng là ngày trăng tròn nên vẫn thấy được những gì đang nằm trên cửa biển. “Cá lớn” đang  cách chúng tôi khoảng non 1000 thước, đen thù lù. Tôi không hiểu sao người tổ chức lại chọn “đi” vào cái ngày trời “sáng” như thế này; nhưng bây giờ đâu phải lúc để thắc mắc.

 

Khoảng 10 phút sau thì người tổ chức, Anh Lê Công Đá (dạy học tại Trường Trung học TT Thâu, Lấp Vò) lội xuống cùng vợ con và một người địa phương đã móc nối trước. Theo kế hoạch, dầu và nước cùng một số lớn lương khô sẽ tiếp nhận thêm tại đây và chiếc tắc ráng này cũng là phương tiện vận chuyển những thứ ấy từ rừng dừa nước ra “cá lớn”. Bấy giờ nước đang “ròng”, rút xuống rất xa, khoảng cách 1000 thước tới cá lớn, trong hoàn cảnh này thật dịu vợi, nhất là khi “vỏ lãi” lúc này lại khẵm hơn. Bốn thằng đàn ông hì hục đẩy chiếc tắc ráng trên đó có 5 chị đàn bà và 2 đứa con nít cộng với số lương khô vừa bổ sung, nuốt dần khoảng đường sình 1000 thước, thiệt chua!

 

Từ lúc đâm ào vô rừng dừa nước dấu mình,  rồi bắt được liên lạc, tập kết lương khô, nhiên liệu đến lúc chuẩn bị chuyển ra cá lớn cũng hơn một giờ. Trăng đã lên khỏi ngọn dừa, mọi vật trên mặt cửa sông bây giờ thật sáng rõ, mình thấy cá lớn thì “họ” đui sao mà không thấy. Với con mắt chuyên môn của người miệt biển thì dù là trong đêm, chắc chắn họ vẫn nhận ra chiếc nào là ghe biển chiếc  nào là ghe sông dưới ánh trăng 14 âm lịch. Thôi thì…hên xui, tới đâu hay đó!

 

Vất vã đẩy kéo vỏ đi được mấy trăm thước thì bỗng một pháo sáng xịt lên không phía xa,  bên kia cửa biển. Chết mẹ, bể rồi tụi bây ơi! Tôi ôm vội thằng con, dắt vợ “vọt lẹ” vô rừng dừa nước. “Phe ta” từ Thốt nốt xuống, ngoại trừ thằng Dũng Văn Khoa, thấy thủ lãnh vọt cũng vọt theo. Phải công nhận rằng mình lẹ thiệt, nhoáng một cái đã phụp vô rừng dừa nước. Ấy cũng bởi nhờ nắm chút địa hình sau vụ diệt rầy năm ngoái. Mà cũng phải công nhận rằng mình nhát thiệt. Mới “tẹt” một trái pháo sáng, chưa biết thực hư ra sao mà đã đánh bài chuồn! Đó, cái hại của vụ biết đường là ở chỗ đó.

 

Tuy nhiên, tui không bao biện gì về cái sự nhát của mình, bởi trong nhất thời, ngoài chuyện lo sợ bị tóm còn phải nghĩ đến mối hiểm nguy dưới “làn tên mũi đạn” của quý vị du kích địa phương mặc dù họ không nhắm vào mình mà bắn. Gì chớ súng đạn thì đừng nên giỡn mặt, bắn chỉ thiên cũng có khi lạc đạn! Ngoài ra, còn một điều nữa, đó là chắc chắn nếu rơi vào “trận địa” súng nổ tưng bừng thì sẽ ảnh hưởng đến thần kinh thằng con tui rất nhiều. Tui nghĩ mình đã quyết định đúng vào lúc đó.

 

Sau này, theo lời kể lại,  Dũng và các người khác đã lên “cá lớn” suông sẻ. Tội nghiệp anh LC Đá đã cho Dũng lên bờ tìm nhóm của tôi cũng như kéo dài thời gian chờ đợi đến gần 1 giờ. Cuối cùng đa số đòi “nhổ neo”, anh LC Đá còn cố xin chờ Minh thêm 10 phút. Và trong 10 phút đó, súng nổ dậy biển đêm cùng với sự xuất hiện của nhiều ghe nhỏ. Tất cả bị bắt! (Một năm sau, phần lớn những người này đã thực hiện thành công chuyến thứ 2, Anh LC Đá định cư ở Mỹ, chuyển ngành sang Công nghệ thông tin, Bùi hữu Dũng thì định cư ở Úc).

 

Lúc đó,  chúng tôi đã xa khỏi hiện trường hàng cây số, nghe súng nổ vang trời suốt nhiều chục phút, tôi chắc chắn chuyến đi đã thất bại. Phần mình, cuộc đào thoát trở về cũng không hề đơn giản. Tui cõng thằng con trên lưng, dẫn cả đoàn lội qua lùm, bụi…Có một đoạn chúng tôi đi trên một bờ đất mà bên cạnh là cái ao sâu thật lớn, đất cục lỗi xỗi, bổng thằng con thốt lên “Ba…té Ba!”. Rõ ràng nó đã sợ hãi, nỗi sợ mà nó đã “thấm” dần từ lúc còn trên dòng sông Hậu mênh mông sóng nước, đến lúc lầm lủi, thập thò trong đám dừa nước âm u. Không đợi con tôi nói thêm, tôi vội bỏ bờ đất bước xuống băng đi trên những bụi lùm gai góc. Xin nhắc thêm lúc này tất cả đều đi chân không vì giày dép đã bỏ lại rừng dừa nước hết rồi. Tôi đã đạp nhiều gai, nhưng lúc này chẳng thấy đau đớn gì.

 

Sau hơn một giờ chúng tôi tới con đường đất dẫn về Ngang Rô (Xã Đại Ân) cách đó chắc khoảng chục cây số. Theo dự kiến của tôi, khi tới chợ Ngang Rô, sẽ mua một ít chuối để đoàn ăn đỡ đói rồi tới bến tàu đò đi về Long Phú và tiếp tục về Cần thơ. Đường đất bây giờ đã dễ đi, vậy mà chúng tôi phải lang thang, lếch thếch đến gần sáng mới tới chợ. Trà trộn vào đám đông chúng tôi tới bến đò. Tôi bảo mọi người chờ đây, tui đi mua chuối về ăn trong khi chờ đò chạy. Sau này nghĩ lại mình thiệt quá thơ ngây, dù bộ dạng lôi thôi sau một đêm mất ngủ, ăn mặc cũng chẳng như dân ở chợ, nhưng cái chất thị thành làm sao dấu được trước mắt người địa phương. Lại còn chân không giày dép rất….  “hổng giống ai”.

 

Tôi lần mò dọc theo cái chợ chồm hổm nhỏ xíu, mua được 2 nải chuối xiêm, 2 bọc nước mía cho vợ con, rồi trở lại bến đò. Không còn thấy ai ở đó! Bổng nghe tiếng con tôi “Mẹ…Ba kìa mẹ…”,  tôi nhìn nơi phát ra tiếng con thì thấy mọi người đều ngồi đầy đủ trong đó, đồn Công An Xã! Và thật “ngây thơ”, không một chút xíu đắn đo nào, tôi cầm 2 nải chuối và 2 bọc nước mía đi thẳng vào đồn…nạp mạng! Bây giờ tôi mới biết, chỗ bến đò ngồi đợi là ngay trước Công An Xã, anh CA trực đêm, sau khi thức dậy, cầm bàn chải đánh răng bước xuống mé sông súc miệng, thấy ngay cái đám người “lạ mặt khả nghi”, bèn mời lên trụ sở, gọn hơ!

 

Nhiều người nói, mầy thiệt ngu, đàn bà con nít vượt biên bị bắt thì chỉ vài ngày là được thả, có khi chỗ giam đông quá vừa bị bắt là thả ngay.  Đàn ông thì chắc chắn bị tù, lâu mau thì còn tùy …hên xui, tội gì mà tự đâm đầu vô rọ! (Điều này đúng với những người cùng đi hôm đó bị bắt tại “cá lớn”, họ bị giải về Sóc Trăng. Đàn bà được thả vào ngày hôm sau, đàn ông  chỉ bị giam 7 ngày, duy nhất có một người không hiểu sao bị giam tới 9 tháng, là Anh Hai dừa khô, hay bởi tại anh này có bằng Cử Nhân Luật? Sau 2 tháng bị giam, Hai dừa khô được cho vác thùng kem đi bán dạo ở Sóc Trăng!).

Thôi ,  ngu kệ tui. Vợ con tui đâu thì tui ở đó!

 

Sau khi lấy lời khai, Công an đưa chúng tôi về Trại giam Long Phú, bằng tắc ráng ! Một công an viên nói anh chịu khó cho còng tay, vì đây là nguyên tắc. Thật sự cho tới lúc này những Công an mà tôi gặp đều dễ thương!

 

Trại giam Long Phú có biệt danh là ‘nhà thiếc” bởi gồm toàn những dãy nhà bằng tôle trán kẽm, nắng tháng Tư làm tăng thêm cái nóng nhà tù. Vừa nhập trại tôi  bị nhốt ngay vào buồng tối khích thước 2m x 3m,  chung với 2 tù khác, ăn, ngủ, ỉa , đái trong bô, tại chỗ. Ổn định chỗ “ở” xong, tôi mới nhớ hồi nảy tại CA Xã, lúc viết bản tự khai tôi mới biết hôm nay là ngày 10 tháng 4 năm 1979,  ngày sinh nhật của vợ tôi. Ôi một sinh nhật đáng nhớ dù chẳng ngọt ngào chút nào. Và trong lúc bịn rịn đi vào buồng tối, tôi đã quên một lời “Chúc Mừng Sinh Nhật”!

 

Các bạn thân mến,

Từ hôm qua tới nay, mãi đối phó với tình hình “cụ thể” dồn dập đến, tôi như không “tự chủ” được mình; từ suy nghĩ đến hành động, dường như điều bột phát. Bây giờ, mọi chuyện đã an bài, không còn sự lựa chọn của một người “tự do”, duy nhất chỉ có “suy tư” là vượt qua được mọi giới hạn của không gian và lại có thời gian, nên tôi bắt đầu nghĩ đến nhiều điều.

 

Trước tiên là không biết vợ và con tôi thế nào, ngoài kia?

 

Đường về trường cũ thì coi như đã bít lại. Trước khi đi một ngày tôi đã bồi hồi lòng dạ trong phòng thí nghiệm Sinh Lý Thực Vật thân yêu, mà tôi đã gắn bó trong suốt những năm làm Giảng nghiệm viên tại đó. Tôi lặng lẽ lau sạch từng cái máy, cái cân. Công việc này hàng ngày do Chú Hải lao công đảm trách. Nhờ viện trợ của Nhật, có lẽ đây là phòng thí nghiệm có nhiều máy hiện đại nhất vào lúc đó tại miền Nam như Infrared Gas analyzer, Atomic Absorption Spectrophotometer, hô hấp kế Warburg…. Bây giờ sẽ vĩnh viễn rời xa.

 

Rồi những ước mơ du học hoặc học tiếp ở nước ngoài bằng cách vượt biên, nay đã rời xa. Năm 1975 tôi và 4 người bạn khác, đều là Giảng nghiệm viên Đại học Cần thơ đã hoàn tất thủ tục đi học cao học tại Nhật bản, chỉ chờ ngày lên đường nhưng rồi…đành chấm dứt.

 

Nỗi cay đắng sâu xa nhất bây giờ mới được dịp dậy lên. Trước đây, có bao giờ mình nghĩ sẽ bị ở tù đâu. Ăn trộm, ăn cướp, giết người, tham nhũng, hối lộ, thụt két…. . bị bắt vô đây thì đúng thôi. Còn mình, hôm nay phải rơi vào hoàn cảnh này thật chẳng biết tại sao? Khi sinh ra tôi đâu chọn được ai là cha, ai là mẹ. Cũng như vậy tôi đã chẳng quyết định được là sinh ra ở Miền Bắc hay miền Nam. Má đẻ ra tôi tại Rue d’Aras à Saigon (nay là Bảo sanh Từ Dủ), sống và lớn lên ở miền Tây Nam bộ, học tập trong hệ thống giáo dục tư bản và làm công chức ngụy quyền. Tất cả những điều đó nó đến một cách tự nhiên…như người Long xuyên! Rồi một hôm đẹp trời, bổng nhiên tôi trở thành công dân hạng 2, đó là nhờ mình đã biết tận dụng thời cơ để khỏi phải cầm súng bắn lại anh em mình, tôi đâu có tội tình gì, vậy mà…. . tôi ngủ quên lúc nào không hay.

 

Đúng như tên gọi, buồng tối, vào ban ngày cũng chỉ có chút ánh sáng từ cái lỗ đinh trên nóc thiếc và cũng nhờ nó tôi “thấy” được “trời xanh” qua bóng mây bay ngược trên nền xi măng. Ban đêm thì chỉ một bóng đèn tròn từ đầu trại hắt sáng vào. Thật ra, trong này cần gì ánh sáng,  bởi 10 phòng giam sắp thành 2 dãy đối diện, đủ gần để có thể thông tin thời sự, ca vọng cổ, tân nhạc, …thậm chí kể chuyện chưởng Kim Dung cho nhau nghe, để quên sầu chờ ngày hết án.

 

Mỗi tuần một lần, được ra ngoài ao nước sau trại, tắm rửa, vệ sinh và hưởng chút nắng mặt trời. Tôi may mắn được vào phòng số 1, đầu dãy nên có vẻ thoáng và sáng sủa hơn. Trong phòng đã có 2 người, một già và một trẻ, người trẻ hơn tôi 8 tuổi thuộc gia đình có của tại địa phương, vào đây vì tội làm “Đại úy tự phong”! Thật ra, anh nói, tui chỉ là Trung sĩ, lính kiểng của Thiếu tá x , trưởng phòng 3 ở Tiểu khu y, thỉnh thoảng mượn xe Jeep của sư phụ lái về quê lấy le. Sau 30/4 một thời gian, có người ghét, tố tui là Sĩ quan ngụy trốn cải tạo, bị nhốt vào đây, chờ xác minh.

 

Hàng ngày, có một cán bộ vào kiểm tra vài lần và lần nào cũng thế, chửi thề, la hét rất kinh, đại khái như Đ. má bộ . . cái chợ hả…Đ. mẹ nhà tù chớ đâu phải nhà hát….  người mới và nhát gan như tui rất dễ…đái trong quần. Anh ta được đặc biệt danh “Quỷ kiến sầu”!

 

Hàng ngày, vào lúc 10h30 sáng và 4h30 chiều, cửa buồng được hé mở để nhà bếp phát cơm. Anh bạn “Đại úy tự phong” còn được người nhà tiếp tế, qua tay nhà bếp, “dư dùng” nên tui và “Củ” Tộc (bạn tù còn lại) được hưởng xái theo. Điều cảm động là hôm sau khi tôi vào thì khẩu phần tiếp tế có gia tăng, theo lời “Củ” Tộc nói nhỏ với tui.

 

Chắc cũng được tư vấn bởi ai đó, nên Bà xã gửi vô liền một ca mủ, một muỗng để ăn cơm và một bô mủ để ỉa! He he, cái sự ỉa này cũng lắm gian nan cho …các bạn cùng phòng. Mình địt (xin hiểu theo phương ngữ miền Nam) mình hửi có khi còn “tự thấy thơm”, còn hửi của người khác thì chẳng thú vị chút nào. Nhưng trong cái phòng nhỏ xíu này thì biết tránh đâu? “I…i. . ít. . ” một cái thì nó thúi rùm cả hủ! “T. . e. . ẹ. . t” một cái thì thúi hoắc cả phòng, có khi còn lang cang tới phòng bên chỉ cách nhau bằng tấm thiếc mỏng. Cho nên tự hạn chế sự địt là nghĩa vụ của các thành viên cùng phòng. Lỡ có mót quá thì cũng …từ…từ…từ… từ…. Đó chỉ mới là…địt thôi. Bây giờ, tới sự ỉa thì đúng là …lớn chuyện. Đầu tiên một ai đó tuyên bố “lão gia” hữu sự. Hai thành viên còn lại quơ lấy cây quạt, bò hoặc bước tới cửa buồng, thò mũi ra khe nhỏ, quạt lấy quạt để vào mặt. Còn đương sự thì đầu tiên là tháo mấy sợi dây thun, dở tấm nylon đậy miệng bô. Và một cái mùi bốc lên. Cái mùi này thì thiệt …không bút mực nào tả nổi, bởi nó được đậy kín từ cái hôm ra ngoài vệ sinh mỗi tuần. Ngày đầu thì tàm tạm, càng về sau thì càng …đậm đà. Của mình thì mình chịu, hai ông bạn còn lại cũng phải ráng chịu theo thôi. Giải pháp quạt và thò mũi ra khe cửa chỉ để giải quyết tình thế một phần nhỏ, phải kết hợp thêm …nín . . rồi . . thở, thở …rồi. . nín…và …quen dần.  Dẫu sao cũng là những  kỷ niệm …đáng “iu”!

 

Trong này tôi cũng đã học được cách đun nước với phương tiện rất hạn chế từ 2 bạn tù thâm niên. Bọc nylon hay nhựa được đốt cháy và nhểu từ từ xuống một lò tự chế, bên trên là cái “gô” (hộp sửa Guigoz) chứa vừa đủ nước để pha trà hay cà phê. Dần dần nước cũng sôi.

 

Khoảng 5 ngày sau khi vào phòng tối thì, theo lịch, trại tui được ra tắm và đi vệ sinh. Đây là dịp để tù buồng tối mang bô đi đổ, rửa và tắm cho đả. Và đây cũng là dịp để tui được nhìn thấy vợ và thằng con trai. Chắc đã được biết trước nên tôi thấy bà xã bồng con đứng chờ ở phía xa, thằng con đưa tay vẫy vẫy. Xin lưu ý là tội phạm bị giam buồng tối không được tiếp xúc trực tiếp với ai ngoại trừ cán bộ quản giáo. Tôi nhìn mẹ con nó qua màn nước mắt! Sau một giờ, chúng tôi trở lại phòng giam.

 

Hai ngày sau, bổng có lệnh gọi tôi lên văn phòng. Tại đây tôi được gặp vợ con  và biết  được tin vui là bả được tha, sẽ về sau khi làm thủ tục xong trong chốc nữa. Đặc biệt trại giam cũng trả lại cả tư trang mà trong biên bản tạm giữ gọi là “khâu kim loại màu vàng”…, đây là trường hợp đặc biệt hiếm thấy. Dẫu sao tôi cũng cảm ơn Ông Trưởng trại, Chú ba Cơ. Riêng tôi thì được ra khỏi buồng tối, chuyển qua  làm tạp dịch ở nhà bếp. Tôi biết đây chính là sự chiếu cố của Chính quyền địa phương đối với vợ chồng tôi.

 

Các bạn thân mến,

Hàng ngày chúng ta đều thấy trời xanh trên cao. Cũng có khi ta khen đẹp vì đúng là có lúc trời xanh rất đẹp; nhưng tôi dám chắc quý vị không thể nào thấy nó đẹp như tôi thấy hôm nay, một cái đẹp bất ngờ đến muốn rơi nước mắt!

Vợ con tôi được về, chúng tôi chia tay mà vui. Tôi ra khỏi buồng tối, qua bộ phận nhà bếp. Tội nghiệp thằng Hải, em tôi, vẫn phải tiếp tục ở trong buồng giam của “Quỷ Kiến Sầu”.

 

Trong tù, làm tạp dịch nơi nhà bếp là một ân huệ vì thong thả và có “cơm cháy” ăn! Hi hi, cơm cháy mở hành thì đúng là “bá cháy bò chét”!  Thật ra đó là nơi tự do nhất đối với một người tù. Mỗi tuần 2 lần, tui được đi gánh trấu ở nhà máy xay lúa gần chợ Huyện. Đây là dịp để chúng tôi “ra dân” ngủ trưa thoải mái. Mỗi bận đi khoảng 5 người, mỗi người 2 cần xé bự. Trấu nhẹ nên chẳng cực nhọc gì. Gánh nước mới cực hơn vì nặng và xa. Đây là công việc hàng ngày của tui, nước được lấy tại hảng nước đá ở chợ, cách trại giam khoảng 500 thước. Mỗi ngày tui phải hoàn thành 10 “đôi nước”, đây là loại nước sạch, trong vắt để làm nước đá, gánh về cho gia đình cán bộ trại giam sử dụng. Hôm nào không đi gánh trấu thì tui đi gánh nước sớm. Hôm có gánh trấu thì gánh nước trể hơn, tới chạng vạng mới xong. Tui thực sự thích công việc này vì ngày nào cũng được đi chợ thoải mái, thỉnh thoảng “nhín” chút tiền vợ để lại uống một ly cà phê. Thời này tù nhân chưa có áo sọc vẽ số nên cũng đỡ mặc cảm, dù rằng ai cũng biết mình là tù. Và cũng ngộ, tui chẳng thấy xấu hổ chút nào cũng như chưa  thấy người nào tỏ vẻ khinh khi, bởi có lẽ họ cũng biết cái anh chàng “thư sinh” này là tù “vượt biên”.

 

Gánh nước và gánh trấu được 2 tuần  thì bà xã xuống. Một bà già người Khmer sống trước cổng trại giam cho vợ tui ở tạm để hàng ngày nhìn Ông chồng gánh nước đi qua. Nói chơi cho vui chứ lúc này, nhờ có bà xã khẩu phần ăn của tui cũng có cải thiện.  Và sự hiện diện của Bả, trong hoàn cảnh này còn hơn “thuốc bổ” thượng hạng! Dù cách nhau qua cánh cổng trại giam và lớp rào kẽm gai, nhưng ấm áp vô cùng!

 

Đến khoảng giữa tuần thứ 4 thì bất ngờ tôi lại được gọi lên văn phòng, Phó Bí Thư Huyện ủy, Anh Hai Vân (sau này là Chủ tịch tỉnh Sóc Trăng) đang ngồi chờ gặp mặt. Sau khi thăm hỏi qua loa, anh đề nghị tôi về Huyện công tác, Anh nói: đây không phải là điều kiện để tôi tha Anh, vì lệnh tha  tôi đã ký, anh có thể đồng ý hay không đồng ý cũng được. Chân tình như thế thì làm sao tôi từ chối được.

 

Hai ngày sau, tức đúng tròn 30 ngày bị tù, tôi được phóng thích, thằng Hải em tôi cũng được thả. Tôi bàn giao lại hết đồ dùng cá nhân cho bạn tù. Mặc bộ đồ vợ vừa đem xuống. Đi một mạch, không được ngoái cổ lại trại giam, cho đến khi khuất mắt ở góc cua (mấy ông bạn tù nhắc nhở như thế lúc chia tay).

 

Một tháng sau, tui trở lại Long Phú nhận việc. Anh 7 Chiếu, Chánh Văn phòng Huyện Ủy (sau này là Giám Đốc Cty Lương thực Hậu Giang) dẫn tôi và bà Xã mua sắm linh tinh và tìm chỗ trọ. Chuyện này sẽ tiếp tục trong một chuyên đề khác. Nay xin trở lại… “Đi theo đường Nam Sông Hậu”…. .

 

Kính thưa quý vị,

Từ chuyện kể về hành trình xuống đất Mũi qua đường Nam Sông Hậu bổng “lạc” vào 2 chuyến đi vào cuối thập niên 70, thế kỷ trước: một bằng đường bộ, trong đó có đi bộ thiệt trong những ngày công tác diệt rầy và một bằng đường sông trong chuyến vượt biên lịch sử đời tôi. Đó là câu chuyện thật trăm phần trăm, với tôi nó vừa là nỗi buồn vừa là nỗi thất vọng vì sự đổ vở những ước mơ.

Sau đó, tôi còn một chuyến bất thành khác và 3 chuyến được cho đi không tốn tiền; nhưng tôi từ chối vào giờ chót vì không thể tưởng tượng nỗi cảnh vợ con mình hoảng hốt trước tai họa ập đến trên biển cả do sự cuồng nộ của thiên nhiên hoặc do sự dã man của con người.

 

Và rồi tôi nhận ra rằng mình đúng, bởi có đến khoảng 1/3 số người Việt vượt biển ra đi đã không tới được miền mong ước vì những hiểm họa nêu trên. Một thảm cảnh đớn đau của dân tộc làm xót xa một giai đoạn lịch sử !

 

Các bạn thân mến ,

Bây giờ xin trở lại tiếp tục cuộc hành trình đi về Đất Mũi qua đường Nam Sông Hậu. Hồi trưa, lúc ở buổi họp mặt gia tộc, mấy người anh của Bà Xã sống tại Cần thơ, có lưu ý chúng tôi là nên đi trong khi trời còn sớm, vì đường này rất vắng, có thể bị trấn lột bất tử vì bọn xì ke ma túy, nếu thấy không an toàn thì nên tạm nghĩ ở Kế Sách. Nghe cũng hơi lo, nên đã chạy khá nhanh, bỏ qua mấy chợ Kế Sách, Đại Ngãi…và chỉ đi theo đường tránh. Và vì vậy mới vừa hơn 16 giờ chiều là đã tới Trần Đề, tức Bãi Giá. Rất bình yên, chẳng có ai trấn lột hoặc đe dọa. Thật ra, càng về gần phía biển, nghĩa là càng rời xa cái nhộn nhịp của Tây Đô, tính đôn hậu, hiền hòa của dân Nam bộ càng rõ nét. Ngoại trừ những nhà trọ nhằm khai thác khách cư ngụ vào mùa bắt nghêu, thì rất ít quán nhậu đèn màu hay cà phê xập xình nhạc trẻ. Không thấy thanh niên thiếu nữ đầu đỏ, đầu xanh. Không nghe tiếng xe hai bánh nẹt “pô”, rú máy, lạng lách bất kể sự an nguy của bản thân lẫn khách đi đường. Chúng tôi “săn” một số ảnh tại xóm lưới rồi vòng vòng xem chợ, tìm chỗ nghĩ qua đêm. Chộp một ảnh toàn cảnh mà tôi nghĩ phần hậu cảnh phía xa chính là rừng dừa nước năm xưa.

 



 

33 năm, bây giờ mới trở lại. Con đường Nam sông Hậu thông thoáng không làm phai những kỷ niệm đắng cay. Hơn 1/4  thế kỷ trôi qua, cảnh cũ giờ không chút mảy may còn; nhưng lại bổng làm chút bồi hồi lòng “lữ khách”!

 

Các bạn thân mến, từ Trần Đề (cửa Tranh Đề), chúng tôi sẽ tiếp tục đi tới Mũi Cà Mau…. nhưng tác giả xin phép tạm dừng vì ngày mai này chúng tôi sẽ bắt đầu một cuộc hành trình mới, bài này sẽ chắc chăn trở lại sau khi kết thúc cuộc hành trình.

    

Hành trình mới dự kiến như sau:

 

Long xuyên->Sài gòn->Nam Cát Tiên->Đơn Dương->Đà lạt->qua QL 27->Hồ Lak->Buôn Ma Thuộc->Pleiku->Kontum->Cửa khẩu Bờ Y-àLào và nếu không có gì trở ngại sẽ qua Thái rồi tính tiếp; dĩ nhiên vẫn bằng con  2 bánh DEAHAN, Hàn quốc. Không biết có ai nổi hứng tham gia không. Hy vọng sẽ gặp bạn bè tại Sài gòn .

 

Thân,

 Mong Phước Minh

29/3/2012

 


 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 233043 visitors (871419 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=