thnlscantho-3
  Vĩnh Phúc - P2
 
10/8/2012


Khi nào tỉnh Vĩnh Phúc đuổi kịp Thành Phố Đà Nẳng ở Chỉ số Cạnh tranh  (Phát triển) các tỉnh Việt Nam- Provincial Competitiveness Index ( PCI )  ? :

 

Lạm bàn phát triển tỉnh Vĩnh Phúc , một tỉnh nữa trung du nữa đồng bằng - Sông Hồng ?

G S Tôn Thất Trình

 

 

Phần II: Lạm bàn phát triển tỉnh Vĩnh Phúc

              

          Năm 2010, Chỉ số Cạnh tranh Phát triển Tòan cầu   của Việt Nam lên 16 bậc, đứng  hàng thứ 59 thế giới

 

            Theo báo cáo Mức Cạnh tranh Tòan cầu- Global  Competitiveness  ( GC ) Report  2010-2011 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới - World  Economic Forum( WEF )  xếp hạng căn cứ  trên chỉ số GC, giáo sư Salal Martin làm ra cho WEF  năm  2004, gồm 12  cột trụ của cạnh tranh là : thể chế,  hạ tầng cơ sở , môi trường kinh tế đại trà – macroeconomic, y tế và giáo dục sơ đẳng, giáo dục cao đẳng và huấn nghệ, hửu hiệu thị trường, hiệu năng thị trường lao động, phát triển tài chánh  và sẵn sàng kỹ thuật,  kích thước thị trường, mức phức tạp doanh nghiệp và sáng chế. Xếp hạng được tính theo  các dữ kiện có được công cộng và Nghiên cứu Quan niệm Điều hành- Executive Opinion Survey ,  một nghiên cứu tòan diện hàng năm WEF làm  chung với mạng lưới  cùng các viện  chung sức ( các viện khảo cứu dẫn đạo, các tổ chức doanh nghiệp liên hệ) ở các quốc gia nghiên cứu bao phủ.  Năm 2010 -11,  trên 13 500 lãnh đạo doanh nghiệp được thăm dò  tại  139 nền kinh tế.  Báo cáo cũng liệt kê  những sức mạnh chánh và yếu kém  các nước, giúp làm ra những ưu tiên then chốt cho cải cách chánh sách .

       Việt Nam leo lên cao thêm  16 bậc, đứng hàng  thứ 59 và đã cải thiện 10 trong số  12 cột trụ phát triển canh tranh. Trong số sức mạnh cạnh tranh đáng kể ra là :    

1-      Thị trường  lao động hữu hiệu, Việt Nam xếp hạng thứ 30.

2-      Hạng  49  về tiềm năng sáng chế tùy theo giai đọan  phát triển;  gồm luôn  cả kích thước  thị trường tương đối khá lớn đứng hạng 35, đặc biệt nhờ một thị trường xuất khẩu cũng khá lớn.

3-       Sác xuất tổng thể  thuế khóa - total tax rate xếp hạng 67, thấp hơn Trung Quốc và Ấn Độ.

4-        Hạng 38 về Liên hệ Lao động – Chủ nhân .

Sác xuất tổng thể thuế khóa  là một biến thiên  của một phối hợp  bách phân thuế tiền lời -% of profits, thuế lao động và đóng góp  - bách phân của tiền lời và các thuế khác năm 2009 ,  Việt Nam xếp hạng  122,   trên Phi Luật Tân hạng 123,  dưới thấp hơn Hồng Kông hạng 11, Thái Lan hạng 99,  Trung Quốc hạng  67, Mã lai Á hạng 60,  Inđônêxia hạng 59, Hàn Quốc ( Nam Hàn ) hạng 38,  Ấn Độ hạng  24, Singapore hạng 18  và Nhật Bổn hạng 15.

Về Liên hệ Lao động - Chủ nhân, Việt Nam đứng hạng 38,  trên Cam bốt hạng 60, Trung Quốc hạng 58,  Phi Luật Tân hạng 56,  Ấn Độ hạng 48, Inđônêxia hạng  47, dưới Thái Lan hạng 34,  Mã Lai Á hạng 18,  Nhật Bổn hạng 7, Hồng Kông hạng 6 và Sinpapore hạng 1.

Về phẩm giá  hạ tầng cơ sở tổng thể,  nghĩa là chuyên chở,  điện thọai và năng lượng  năm 2009- 2010, Việt Nam đứng hạng 123 , thua Phi Luật Tân( hạng  113),  Cam bốt ( hạng 83), Thái Lan ( hạng  46 )…, Nhật Bổn ( hạng 15 ) Hàn Quốc (hạng 12) , Singapore( hạng 3) , Hồng Kông ( hạng 2 ).

Về  gánh nặng  của chánh phủ điều hòa, nghĩa là những thủ tục  chánh phủ đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải có như là giấy phép , các thể lệ điều hòa , báo cáo v.v… , Việt Nam đứng hạng 120 , trên Phi Luật Tân  ( hạng 126 ) , nhưng dưới xa  Cam Bốt ( hạng 64),  Thái Lan ( hạng 42), …Trung Quốc ( hạng 21)  Mã lai Á ( hạng  17 , Hồng Kông ( hạng 2 ) và Singapore (hạng 1 ) .         

 

 Những thách thức Việt Nam mắc phải là :

- Thương mãi với Việt Nam bị tai hại là vì thuế nhập khẩu qúa cao ( hạng thứ 90 ) , các rào cản thương mãi khác (  hạng 112 )  và các thể lệ quan thuế đè nặng( hạng 106)       

             -  “ tiếp theo một thời kỳ bận rộn  vì lạm phát cao, một  trụt giá đáng kể Đồng Bạc VN, và một chao đảo lớn về lãi xuất ,  tình trạng kinh tế đại trà cải thiện rỏ rệt (  hạng 85 , cao lên  27 bậc ), nhưng vẫn  xếp hạng thấp kém.  Thâm thủng ngân sách chánh phủ VN  vẫn còn là một nước cao nhất thế giới, góp phần tăng nợ công và nhấn mạnh là cần tiếp tục nhiều cố gắng tiến tới ổn định kinh tế đại trà”

            - Hạ tầng cơ sở , căng thẳng vì phát triển kinh tế mau lẹ,  vẫn còn là một thách thức chánh yếu  cho xứ sở,  dù đã có cải thiện những năm gần đây, đặc biệt đáng lo ngại về phẩm giá  đường xá hạng 117 ) và các cảng sông -biển ( ports,  hạng 97 )

            -  “ dù rằng có cảm giác là phẩm giá giáo dục đã cải thiện, sác xuất số người ghi tên đi học ở mọi cấp vẫn còn thấp kém  ( hạng 71 cho tiểu học, 102 cho  trung học và  109 cho đại học )”

            -  “ Muốn cải thiện thêm mức cạnh tranh, Việt Nam cũng phải tiếp tục củng cố  môi trường thể chể. Điều hòa được xem là nặng nề ( hạng 120 )  với số thể lệ ( 11 thể lệ cứu xét , hạng 110 ) và thời gian  ( 50 ngày, hạng  118 )  đòi hỏi  để bắt đầu một doanh vụ là một tiến trình đáng chán nản”

            -  “ Thêm vào đó , có lo ngại về mức bảo vệ tài sản trí thức – intellectual property  protection ( hạng 109 )  và ở một phần nhỏ hơn về  tôn trọng quyền  tài sản ( hạng 81).

            - Tham nhũng được xem là thường xuyên và lan rộng khắp nơi ( hạng 107 ) .   

            -  Về khía cạnh quản trị tổ hợp, khu vực tư chưa được xem là đủ trách nhiệm ( hạng 124 ), một phần vì yếu kém bảo vệ người đầu tư ở Việt Nam ( hạng 133 , gần hạng chót )

 

         Về Chỉ số Cạnh tranh Phát triển Tỉnh – PCI , Vĩnh Phúc đứng hạng 6, hạng cuối cùng nhóm ưu điểm, sau Đà Nẳng hạng nhất, nhưng đã trên Bình Định. Sài Gòn- TP HCM  hạng 16 và Hà Nội hạng 33 .

  

        Chỉ số Cạnh tranh các Tỉnh – Provincial Competitiveness Index (PCI ) do Phòng Thương Mãi và Công nghệ Việt nam  đăng tải  là một cố gắng giải thích tại sao vài nơi   trong nước lại thực thi tốt đẹp hơn các nơi khác, chiếu theo động năng của lảnh vực tư nhân, tạo công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế. Sử dụng những dữ liệu nghiên cứu mới mẽ của các doanh nghiệp về nhận thức các môi trường doanh vụ địa phương, cũng như những dữ liệu đáng tin cậy và so sánh được từ các chức quyền  và các nguồn gốc khác chiếu theo các điều kiện địa phương, các  sác xuất PCI  được tính theo  thang 100 điểm .

          Đà Nẳng đứng hạng nhất ( 75.96 điểm) theo PCI  giải tỏa ngày 28  tháng giêng năm 2010. Thứ hai là Bình Dương ( 74 điểm ).  Vĩnh Phúc đứng hạng 6 ( 66,65 điểm ) hạng cuối cùng, nhóm có PCI được xem là ưu điểm – excellent, gồm thêm  Lào Cai ( 70.47), Đồng Tháp ( 68.54) và Vĩnh Long ( ( 67.24 . Ở nhóm có PCI được xem là khá cao- high,  sau Vĩnh Phúc là Bình Định hạng 7 ( 65.97 ) … xuống đến Quảng Nam  hạng 26 ( 60.81 điểm ).

         Đà Nẳng, năm 2010, chiếm hạng nhất ở chỉ số PCI lần thứ hai. Sở dĩ như vậy nhờ  Đã Nẳng là một cảng biển quan trọng và là thành phố lớn hành thứ tư nước nhà. Tuy Bình Dương chiếm hạng nhì, nhưng  điểm chỉ số  súyt soát Đà Nẳng.  Bình Dương trên hẳn Lào Cai hạng 3 đến  gần 4 điểm. Bình Dương đứng hạng nhì nhờ nhiều lọai dùng xếp hạng quan trọng như hạ tầng cơ sở, môi trường đầu tư tổng thể, tư nhân cung cấp dịch vụ doanh nghiệp và đứng nhất lọai xếp về tương đối trong sáng – transparency. Thành phố Sài Gòn - HCM  theo PCI năm 2010 trụt xuống 3  bậc, đứng hàng thứ 16 và Hà Nội trụt 2 bậc  xuống hàng thứ  33.  Tỉnh Đông Bắc là Lào Cai hạng 3 , có biên giới  chung với Trung Quốc  đã có giao thương biên giới phát đạt, giải thích tại sao lại có nhiều cải thiện, để có điểm PCI cao hơn Vĩnh Phúc .

           

          Phát triển công nghệ

 

        Công nghệ và xây cất năm 1997 lúc  mới tái lập tỉnh Vĩnh Phúc chỉ mới chiếm 20.7 GDP, năm 2008 tăng gần đến 59.75 % năm 2008, trong khi đó nông lâm ngư từ  44.4 % năm 1997 hạ xuống  17,11 % năm 2008. Dù rằng trong thời gian  1997- 2007 nông lâm như Vĩnh Phúc cũng đã tăng trung bình  5.4 % mỗi năm , nhưng công nghệ và xây cất lại tăng đến 33 .1% mỗi năm.  GDP mỗi đầu người Vĩnh Phúc, năm 1995 chỉ mới đến  1.23 triệu đồng VN ( bằng  40.9 % mức bình quân cả nước ); năm  1999 lên 23.21 triệu đồng ( 63 % mức bình quân ) và năm 2008 tăng lên đến 21. 1 triệu đồng ( khỏang 1250 $US theo thời giá, bằng 100% ? mức bình quân). Vĩnh Phúc dự liệu  tăng GDP mỗi năm  thời kỳ  tới 2010 - 2020  trên 10 % , để đạt  GDP trung bình mỗi đầu người năm 2015 là 2000 $US và năm 2020 là 3000$US, cố gắng đuổi kịp trung bình Thái Lan ngày nay.

           Từ năm 1997 đến năm 1999, Vĩnh Phúc mới đã thiết lập thêm nhiều cơ sở công nghiệp mới  như nhà máy giày thể thao xuất khẩu ( 1 triệu đôi / năm) ,  nhà máy may xuất khẩu Hương Canh ( một triệu sản phẩm/ năm ),  nhà máy  khai thác và biến chế đá ( 60 000m3 /năm), mở rộng và hiện đại dây chuyền gạch sản xuất (  lên  25 triệu viên  các nhà máy gạch Quất Lưu, Đòan Kết; lên 15 triệu viên của xí nghiệp  gạch Bồ Sao ).Và thu hút thêm 10 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngòai, tổng số vốn đầu tư năm 1999  là 307,1 triệu $US.

        Trong 3 năm 2006- 2008,   công nghệ tăng trưởng trung bình hàng năm ( theo chỉ số năm 1994 ) là 29.34% , quốc doanh tăng 8.96% , khu vực tư 21.13 %,  công nghệ ngọai quốc đầu tư là   31.92%  Tuy nhiên năm 2009 , tổng sản lượng công nghệ Vĩnh Phúc , trong quý đầu chỉ thực hiện được  35.16% dự tính cho cả năm, giảm  mất đi 14.18%  so với con số năm trước. Trong thời gian 2006 - 2 011, mỗi năm thu hút được 25- 30 dự án, tổng cọng tư bản đăng ký là 300- 400 triệu $US , nâng tổng số đầu tư ngọai quốc FDI  cuối năm 2010 lên 225- 230 dự án, tư bản đăng ký tổng cọng là 2.5- 3  tỉ $US.  Năm 2010, lợi tức xuất khẩu tỉnh khỏang 500 triệu $US, 23 lần hơn năm 1997 .                  

        Cuối năm 2008, Vĩnh Phúc đã  hòan thành  5 công viên công nghệ - Industrial Parks ( IP ) . Đó  là IP Kim Hoa , thuộc huyện Mê Linh, phía đông thị xã Phúc Yên, cạnh đường sắt và quốc lộ 2, diện tích 308 ha, các công nghiệp chủ yếu ở IP này là sản xuất phụ tùng kim khí và phi kim khí, lắp ráp ô tô, xe máy, dệt, da, may mặc, dụng cụ thể thao. IP Khai Quang nằm về phía đông thị xã Vĩnh Yên, trên một khu đồi, cũng cạnh đường sắt và quốc lộ 2,  252 ha.  Ngòai các công nghệ đồ chơi trẻ em, dệt, dụng cụ thể thao, IP Khai Quang cốtâm thu hút các ngành kỷ thuật cao ( ? ), các ngành ít gây ô nhiễm môi trường ) phụ tùng lắp ráp ô tô và xe máy,  sản xuất kết cấu kim lọai, điện, điện tử.. ). 3 công viên khác đã được chấp thuận là Bình Xuyên I ,Bình Xuyên II ,diện tích cả hai IP này  là 1000ha ở huyện Bình Xuyên , Hương Canh  40 ha ở thị trấn Hương Canh, và Xuân Hòa 70 ha ở huyện Mê Linh. 4 IP khác đang chờ chấp thuận là  Chấn Hưng – Tân Tiến ( ?) diện tích 126ha ở xã Chấn Hưng huyện  Vĩnh Tường, Hội Hợp (? )- Quang Minh , 850 ha  ở huyện Mê Linh  Sơn Lợi -  Lài Sơn ( ? ), 20 ha , trong thị xã  Vĩnh Yên. Tổng số diện tích 9 IP là 2 284ha, tổng số diện tích dành cho công nghệ ở 5 IP được chấp thụận là 596ha và đất đã xây cất, cho thuê  67 %.  4 IP còn lại đang  làm qui họach, dự án đầu tư chi tiết, bồi thương đất đai và hòan tất mọi kỷ thuật hạ tầng cơ sở cần thiết.        

 

       Ngành công nghệ nổi bật nhất Vĩnh Phúc là ngành cơ khí chế tạo, có khả năng thu hút nhiều lao động, nhưng tương đối lại cần nhiều vốn đầu tư và đòi hỏi  lao động kỹ thuật  tay nghề cao. Trước năm 2000,  đó là công nghiệp lắp  ráp, sản xuất xe đạp, xe máy, và ô tô.  Xí nghiệp xe đạp Xuân Hòa, cơ sở Honđa – Việt Nam , công ty Toyota Việt Nam  là 3 công ty có giá trị sản xuất lớn nhất tỉnh. Sau năm 1999, một số  xí nghiệp vệ tinh cho ngành này đã ra đời như  cao su INOUE, công ty phanh NISSAN , cao su Xuân Hòa.  

         Đáng kể là  làm động cơ xe gắn máy , xì cút tơ… Piaggio  khai trương nhà máy đầu tháng 3 năm 2012 ở IP Bình Xuyên. Tổ hợp Piaggio  có trụ sở chánh ở thị trấn Pontedera , Ý Đại Lợi  cho biết là dự tính đầu tư chừng  70 triệu euro hay 93.3 triệu $US ở Việt Nam trong thời gian 2012- 14, trong tổng số tư bản  đầu tư  của tổ hợp là 400 triệu euro. Chiến lược của Piaggio  là nhắm vào tăng trưởng kinh tế lớn mạnh của những quốc gia đang trổi dậy, thực hiện thể tích mức bán tòan cầu là 1 triệu đơn vị và tổng số mức bán tòan cầu là 2  tỉ đô la eurô vào tài khóa 2014. Phức tạp công nghệ Piaggio Việt Nam gồm Trung tâm khảo cứu và phát triễn xe  gắn máy hai bánh , kiểu xe chế tạo lần đầu tiên ở Á Châu ( ? ), nhưng nhà máy làm động cơ  xi cút tơ  này cũng nhắm mục đích  phát triễn lọai xe Piaggio mới cho các thị trường Ý, Việt Nam và Ấn Độ. Nhà máy  mới khai trương ở IP Bình Xuyên dự trù l chế tạo 300 000 động cơ /năm, khởi sự sản xuất giai đọan đầu là 200 000.  Nhà máy chánh thức họat động  tháng tư năm 2012 với giàn lắp ráp  động cơ xì cút tơ , các máy  chế biến  aluminium và một dây chuyền thanh tra. Xưởng máy mới này  nằm kế cận  nhà máy lắp ráp xe hai bánh  hiện đại  của Piaggio Việt Nam, nơi đã sản xuất các xì cút tơ Vespa, Liberty, Fly và Zip.

 

        Dịch vụ và thương mãi

 

        Thế nhưng  công nghệ  chưa giải quyết nổi công ăn việc làm tỉnh nhà, vì từ năm  1997, mức  tìm ra công ăn việc làm ở công nghệ chỉ mới khỏang 25- 26 000 một năm,   kém hẳn  các ngành dịch vụ  tạo ra mỗi năm đến 40 000.  Phát triển công nghệ chưa tạo   ra cơ cấu lao động qui họach là 40 %  cho năm 2015 ( ? ). Để thu hút con số  513 000 người  đang làm việc ở  các ngành  trồng tỉa, chăn nuôi, khai thác, trồng lại rừng,  thủy sản … trong  tổng số  trên 532 000 năm 1998.  Dù rằng tốc độ gia tăng dân số Vĩnh Phúc  đã giảm từ 2.14 % năm  1990, xuống chỉ còn 1.43 % năm  1999.                

        Dịch  vụ  và thương mãi Vĩnh Phúc trong 10 năm qua  đã tăng mạnh mẽ, đặc biệt khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mãi Thế Giới -World Trade Organisation (WTO) .  Dịch vụ và Thương mãi đã đóng một vai trò quan trọng  phát triển kinh tế xã hội nước nhà. Giá trị thêm thương mãi, tính theo chỉ số  giá cả sản xuất năm 1994, đạt 2606 tỉ đồng VN năm 2008, 7.12 lần hơn  năm 2000, 18.6 lần hơn  năm 1997 là năm tỉnh  vừa tái lập. Nửa năm đầu 2009, đạt 7 243 tỉ đồng, tăng 48.24%  so với nửa năm đầu 2008. Tổng lợi tức xuất khẩu thời gian 2001- 2008 là  trên 1 425 triệu $US. Năm 2008 là 351.4 triệu $US, 22.55 lần hơn năm 1997. Tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2009, chỉ đạt 150, 3 triệu $US, 73 ,8% con số 6 tháng đầu năm 2008, năm xảy ra khủng hỏang kinh tế tài chánh trên thế giới.  Các sản phẩm   chánh tỉnh xuất khẩu là trà khô, dệt may – tơ sợi , giày dép, xe gắn má , các bộ phận xe ô tô  và các sản phẩm công nghệ cơ khí ….    Nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2009 lên 150.7 $US. Nhập khẩu chánh là nguyên liệu, bộ phận rời cho lắp ráp và  sản xuất hàng hóa,  các sản phẩm  đường vào cho các xưởng máy FDI tỉnh.

      Để hỗ trợ dịch vụ thương mãi, Vĩnh Phúc đã có Ngân hàng Nông nghiệp tại thị xã Vĩnh Yên và các chi nhánh, phòng giao dịch tại các huyện trong tỉnh; Ngân hàng Công Thương tỉnh trụ sở  cũng ở phường Ngô Quyền tỉnh Vĩnh Yên và chi nhánh tại huyện Mê Linh ; Công ty Bảo hiểm  thành lập từ 28-1- 1997  với các dịch vụ bảo hiểm trách nhiệm , bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm nhân thọ ( ? ).  Ngòai ra còn mạng lưới tín dụng nhân dân ( ? )  gồm 15 quỹ đến năm 2000, hầu góp phần lành mạnh hóa  thị trường tiền tệ, phục vụ tốt các nhu cầu vốn  ở khu vực nông thôn  và các thị trấn , thị tứ.

 

       Giao thông vận tải

      

     Tổng chiều dài đường bộ năm 1999 của tỉnh dài 1 750km.  Cao hơn mật độ  đường bộ trung bình tòan quốc. Hệ thống quốc lộ gồm 4 tuyến : quốc lộ 2A, 2B, 2C và 23, tổng chiều dài là 111. 6 km là 77.5 Tổng chiều dài tỉnh lộ km.  Chỉ vài khúc đọan các tỉnh lộ  là được trải nhựa hay bê tông nhựa như tỉnh lộ 304  từ Hợp Thịnh đi Vũ Di- Tân Tiến trải nhựa 9 km, còn 8 km là đường cấp phối, tỉnh lộ 307 Thái Hòa – Then  dài 20 km chỉ có  10km trải nhựa, tỉnh lộ 317 Phúc Yên -Đại Lải dài 14.5km còn 1km chưa  đổ  bê tông nhựa.  Tỉnh lộ 303 từ Tam Canh đến Giã Bàng và tỉnh lộ  306  từ  Đức Bắc đến  Xuân Hòa  đều là đường cấp phối. Tòan tỉnh có 40 tuyến đường huyện , tổng số  chiều dài là 314km.  Chất lượng các đường huyện rất xấu, chỉ 1% mặt đường được trải nhựa, 79 % mặt cấp phối  và 20% là  đường đất và trải đá. Tòan tỉnh có 1216 km đường nông thôn  , 772 km  là đường đất, 425 km là đường cấp phối. Chiều dài hệ thống đường đô thị là 30. 5 km , tập trung chủ yếu ở thị xã Vĩnh Yên( 22 km )  và thị trấn Tam Đảo (8.5 km ). Từ năm 1999, Vĩnh Phúc đã đầu tư  nâng cấp mạng lưới  giao thông đô thị, đặc  biệt ở thị xã Vĩnh Yên.   Cơ quan hợp tác  Quốc tế Nhật Bổn – JICA tháng 10 năm 2007, trong khuôn khổ  Viện trợ  phát triễn Nhật -ODA cho vay thực hiện Dự Án Cải Thiện  Không Khí Đầu Tư  Vĩnh Phúc 151 triệu $US tháng 3 năm 2007, để xây cất 15 Km ở thị trấn mới Mê Linh ( Phúc Yên ) cùng 4 thành phần khác, gồm cả nới rộng  hệ thống cung cấp nước sạch và cải tiến  hệ thống  nước cống và nước phể thải  ở Vĩnh Yên ( khả năng 16 000 m3/ngày nước sạch), ở Mê Linh-  Phúc Yên ( 20 000m3/ngày ), tái thiết mạng lưới điện ở cả hai thị trấn Vĩnh Yên ( đã có trạm biến điện  65 000 KVA) và Phúc Yên ( trạm 40 000 KVA ).  Dự án dự trù hòan tất năm 2014 .   

           Đọan đường  sắt – xe lữa Hà Nội - Lào Cai chạy qua  lảnh thổ Vĩnh Phúc  dài 41 km  co  6 ga  thuộc tỉnh, 4 ga nhỏ: Thạch Lỗi,  Hương Canh, Hương Lại, Bạch Hạc và 2 ga chánh Phúc Yên, Vĩnh Yên  đã đựợc nâng cấp. Tổng chiều dài đường sông của hai sông chánh là sông Hồng và sông Lô, hai sông nhỏ là sông Cà Lồ và sông Phó Đáy, là  120 km .  Cần Xây dựng bến bải chưa tốt  hệ thống đường thủy  Vĩnh Phú , hầu làm dễ dàng  chuyễn vận vật liệu, hàng hóa, trang bị, tiện nghi  đến Hải Phòng và Quảng Ninh,  hòan tất mau lẹ hơn các cảng sông  Chu Phan ( ? ), Vĩnh Thịnh  và Như Thủy.

   

     Hai cụm du lịch tỉnh nhà

 

    Vĩnh Phúc có nhiều danh lam thắng cảnh. Đáng kể nhất là  Tam Đảo, Tây Thiên , Đải Lãi , Đầm Vạc. Hai cụm  du lịch tiêu biểu là cụm Vĩnh Yên – Tam Đảo nằm ở thị xã  Vĩnh Yên và huyện Tam Đảo và   cụm   Mê Linh- Đại Lải , chủ yếu nằm ở vùng Mê Linh.   Du Lịch Vĩnh Yên – Tam Đảo đặc trưng là nguồn tài nguyên thiên nhiên như cảnh quan núi,  nơi mát mẽ ở khí hậu nóng bức nhiệt đới, rừng đa lọai sinh vật thực vật cũng như động vật, nhiều lọai hiếm có, bị hiểm nguy tuyệt tích, cần triệt để bảo vệ, đầm nước v.v.. tiêu biểu cho du lịch  nghỉ ngơi, giải trí  trên núi Tam Đảo  hay ở Đầm Vạc ( Vĩnh Yên ) . Du lịch Mê Linh - Đại Lải  nổi bật là hồ nước Đại Lải và cảnh quan xung quanh hồ, cùng một số di tích  như  đền thờ Hai Bà Trưng ở thôn Hạ Lôi, đình Bạch Trữ, đồi 79 mùa xuân ,có thể làm ra những sản phẩm  du lịch tiêu biểu  như nghĩ ngơi trên hồ, thể thao nước …

     Núi Tam Đảo ở phía Tây Bắc Hà Nội,  cách thủ đô 75km, cách thị xã Vĩnh Yên  24 km.  Từ Hà Nội có thể đi bằng đường xe lữa hoặc đường bộ  tới Vĩnh Yên rồi đi ô tô tới Tam Đảo.  Những đỉnh cao nhất Tam Đảo ở phía Tây Bắc. Sở dĩ gọi tên Tam Đảo là vì  đoạn giữa khối núi nhô lên ba đỉnh nhọn cao xấp xỉ nhau  là Thiên Thị, Thạch Bàn và Phù Nghĩa . Đỉnh Thiên Thị -«  Chợ Trời » ở phía Đông Nam , cao 1375m,với những tầng đá lô nhô  như những người Trời đang xuống họp chợ. Đỉnh  cao thứ hai là Thạch Bàn – «  Bàn Đá » , cao 1388m. Đỉnh cao nhất  tới 1400m  có tên là Phù Nghĩa -«  Giúp việc Nghĩa » ) gắn liền với việc quân Quận Hẻo chống vua Lê, chúa Trịnh giữa thế kỷ thứ 18  ( hay còn có thể với tướng Phù Nghĩa đời Trần ). Vào đầu thế kỷ thứ 20, năm 1902, một khu vực trên sườn núi mé Nam được chánh quyền thuộc địa Pháp xây dựng thành một thị trấn nghỉ mát  gọi là « Trân Châu Đông Dương – Indochina Pearl », nhờ nhiệt độ Tam Đảo thường thấp hơn Hà Nội  10 độ C.  Theo tả cảnh của nhà sử học Nguyễn Vĩng Phúc năm 1989, đây là một cái thung lọt giữa bốn bề núi đá, cao hơn mặt bể 900m, có dòng suối Bạc chảy qua.  Suối này tiếp nước cho 2 hồ bơi xây giữa khu nghỉ mát và chảy ra khe núi, đổ xuống vực thành Thác Bạc. Nước từ trên cao 30- 40m  rơi mài mòn vách đá, bọt trắng xóa. Ngày nóng nhất Tam Đảo cũng chỉ 27 độ C là cùng. Khác với Sa Pa quanh năm sương mù và hơi lạnh, Tam Đảo trong một ngày  có đủ 4 mùa :  sáng là mùa xuân, trời se se lạnh;  trưa là mùa hè có thể ra tắm ở suối Bạc; chiều là mùa thu phải mặc áo ấm và tối là mùa đông, ngủ phải đắp chăn dày.  Gió không ngừng lùa mây, nhởn  nhơ bay lượn  quanh quẩn đây đó, đôi khi lướt qua  của sổ lọt vào phòng.  Cảnh suối rừng phối hợp, tạo nên vẻ đẹp của nước bạc non xanh ; chim rừng luôn vang tiếng hót; thác nước đổ hòai vang dội tận ngàn xa. Đứng ở Tam Đảo nhìn xuôi, bên này lấp lóang Ngã Ba Hạc, nơi nước trong trẻo sông Lô  hòa vào nước đỏ sông Hồng  Xa xa bên kia  sông là đỉnh Ba Vì, bồng bềnh trong cảnh mây mờ. Ban đêm, nhìn về phía Việt Trì và Hà Nội thấy điện sáng cả một vùng trời.  Còn  thu tầm mắt lại thì xung quanh khu nghỉ mát  cũng không thiếu gì cảnh đẹp. Gần thì là Mỏm Bắc, Mỏm Nam, đèo sang Thái Nguyên, đường vòng quanh sườn núi, cảnh cheo leo kỳ thú. Xa một chút  thì có 3 đỉnh núi cao  nơi có chùa Tây Thiên, có suối Kim Tuyền…  những vọng cảnh mỹ lệ. Tam Đảo  cũng là vùng lúa uốn mình vàng sẩm khi sắp thu họach, thuốc lá hoa tím nhạt, những lòai  rau hoa trái  cây ôn đới , trên đồi  ngày ngày có những đàn cừu hàng vạn con( ? ) , thanh bình gặm nội cỏ hiền lành.

      Hồ Đại Lải thuộc huyện Mê Linh, cách Hà Nội chừng 50km, giao thông thuận tiện  là điểm du lịch hồ cuối tuần. Hồ Đại Lải hình thành trên  cơ sở một  hồ chứa nước nhân tạo bảo đảm nước tưới cho gần 3000 ha đất canh tác xung quanh sườn phía Nam chân núi Tam Đảo. Hồ rộng 525ha, mặt hồ ở độ cao trung bình 21.5m, chứa được 30.4 triệu m3 nước. Giữa hồ có đảo chim rộng 3ha, chỗ cao nhất cao 23m. Khi mực nước hạ thấp, trong lòng hồ xuất hiện một số đảo nhỏ. Vùng đất phía Bắc và Đông Bắc là nguồn tập trung nước cho hồ,tổng diện tích trên 6 000 ha, phần lớn là đồi và thung lũng, độ dốc trung bình 12- 20 độ.  Phía Tây Và Tây Nam là núi Thằn Lằn . Gần sát hồ, địa thế đẹp, nhiều bải bằng phẳng , nước nông cạn và sạch sẽ , nên có thể làm bãi tắm.  Hồ Đại Lải  đã được khai thác từ mấy chục năm nay là một trong những điểm du lịch cuối tuần  cho dân chúng  Thủ đô .

    Gắn liền với các khu du lịch Đại Lải,  còn có nhiều lọai rừng nguyên sinh tỉnh nhà với nhiều lòai động vật, thực vật  được bảo tồn khá nguyên vẹn. Tiêu biểu là Vườn Quốc Gia Tam Đảo và phụ cận,  diện tích 19 000 ha , trong  đó 6000 ha trên đất Vĩnh Phúc.Vườn quốc gia này đang cố đón mời thêm các nhà khoa học quốc tế  và các nhà phát triễn đầu tư liên doanh ngọai quốc,  đến nghiên cứu thêm  các động vật, thực vật hiếm có, giá trị cao,  bảo vệ nguồn gen thế giới và điều hòa  các nguồn nuớc suối, nước ngầm …  . cũng cố  Tam Đảo thành một trung tâm nghiên cứu quốc tế  khảo cứu sinh thái rừng  cao nhiệt đới,  bổ sung thêm phần du lịch sinh thái vùng Tam Đảo .  

     Vĩnh Phúc còn là một tỉnh giàu du lịch nhân văn. Tỉnh nhà có 162 di tích, trong đó 64 di tích đã được  bộ Văn hóa xếp hạng. Theo lọai hình, tỉnh có 75 đình, 29 chùa, 45 đền, 2 miếu , một tháp … . Đáng  lưu ý nhất là thắng cảnh Tây Thiên , khu nghĩ mát Tam Đảo, chùa Tích Sơn, đền thờ  Hai Bà Trưng…  Mỗi nơi  đều có lễ hội đặc thù.

        Tháp Bình Sơn- Tháp Then  của chùa Vĩnh Khánh ( còn  gọi là chùa Then ) thuộc xã Tam Sơn,  huyện Lập Thạch là một nghệ thuật kiến trúc độc đáo vào đời Lý- Trần , còn được bảo tồn nguyên vẹn cho tới ngày nay . Cây bảo tháp được xây dựng bằng gạch đất nung để trần,  mặt ngoài viên gạch có  hoa văn trang trí đặc sắc là một phong cách kiến trúc rất hiếm ở Việt Nam. Màu nâu sẩm  của gạch  hòa quyện vào không gian gò đồi và cây xanh làm tăng thêm vẻ cỗ kính trang nghiêm của cảnh chùa. Thời gian đã hủy họai mất mấy tầng trên và chỏm tháp, nay chỉ còn lại 11 tầng và phân bệ dưới chân ; tất cả cao chừng 15m.  Quanh tháp có lan can con tiện bằng đất nung, song cũng bị phá hủy từ lâu. Các tầng tháp xây thon dần và thấp dần theo chiều cao, bốn mặt có cửa cuốn tò vò nhỏ dần theo tầng tháp.  Thân tháp được cấu trúc bằng hai lớp gạch : gạch khẩu  chịu lực  nhiều  kích cỡ, để trơn, phần lớn cấu trúc mộng chốt ; giá trị nhất  là lớp gạch  đất nung  trang trí hoa văn    mặt ngòai tháp.  Nhiều lọai hoa văn trang trí phức tạp, kỹ lưỡng, nổi bật là những  hàng hoa cúc, cánh sen,  sư tử hí cầu, lá sòi , hoa mặt nhẫn, rồng chạm nổi   . Những trận lụt lớn  đã làm tháp bị nghiêng và sụt lở, có nguy cơ  đổ hòan tòan. Các nhà khoa học, các nghệ nhân  đã tháo dỡ rồi  lắp ráp, dựng lại theo đúng quy cách cũ.  Tháng 10 năm 1974,  trùng tu hòan thành, cây bảo tháp qúy vùng đất Tổ có lại hình dáng cổ xưa.  

      Chùa Tây Thiên  trên núi Tam Đảo, trong chùa có điện thờ mẹ của thần núi Tam Đảo. Đình  Hương Canh  thuộc huyện Tam Dương xây dựng vào  đời Vĩnh Thịnh, kiến trúc theo chữ công(  nhắc lại là Dinh Độc Lập- Thống Nhất Sài Gòn kiến trúc hình chữ vương), gồm phương đình, thượng điện và hậu cung. Đình thờ các vị thần: Thiên đệ Hòang Đế , Đông Ngạc Đại vương, Linh Quang Thái hậu.  Đình làng Phú Mỹ thuộc làng Phú Mỹ, huyện Mê Linh, thờ vợ chồng Hùng Thiên Bảo – Trần Hang là hai tướng của  Hai Bà Trưng. Đình này là một công trình kiến trúc mang đậm phong cách thế kỷ 18. ( phong cách này đã  được trình bày phần nào, khi đề cập đến hai viên ngọc qúy kiến trúc đất nước thời bấy giờ là  Đình Đình Bảng- Bắc Ninh và chùa Tây Phương- Hà Tây)

     Di tích đền thờ Hai Bà Trưng ở thôn Hạ Lôi, huyện Mê Linh, vào ngày 6 tháng giêng âm lịch hằng năm có lễ hội đặc thù rước kiệu và nhiều trò vui dân gian. Hội xuân làng Thổ Tang tổ chức ở  Đình Thổ Tang, một ngôi đình cổ  xây dựng cuối thế kỷ 17, huyện Vĩnh Tường, bắt đầu ngày 14 tháng giêng âm lịch, kéo dài 10 ngày. Đình thờ  thần Tản Viên và 3 vị thần đất. Hội  có lễ rước từ miếu Trúc về đình làng và nhiều trò vui. Hội Rừng được mở từ ngày 6 tháng giêng  đến ngày 10 tháng11 âm lịch hàng năm tại Văn Trường, huyện Vĩnh Tường. Hội có  nhiều cuộc vui như đua thuyền, đốt pháo, đấu gậy, thổi cơm, trò vui «  bắt  trạch trong chum » ….  Hội đình Tích Sơn diễn ra hằng năm  vào ngày 3 tháng giêng âm lịch tại Đình Tích Sơn thuộc xã Tích Sơn, thị xã Vĩnh Yên. Trong lễ hội có trò thi nấu cơm, thi kéo co nam nữ. Hội Sơn Đồng diễn ra hằng năm tại xã Sơn Đồng các ngày 4 đến 6 tháng giêng âm lịch, có trò trình diễn nghề nông.

     Các làng tiểu thủ công  truyền thống Vĩnh Phúc cũng có thể thu hút du khách đặc biệt là các làng đồ mộc gia dụng, may thêu đan gia công, đan lát chế biến các sản phẩm từ mây tre, chế biến thức ăn, đậu phụ -  tàu hủ (tofu), bánh kẹo địa phương cỗ truyền, sơ chế nguyên liệu thực phẩm, ngay cả những lò tiểu thủ công nghệ  sản xuất vật liệu xây dựng đặc thù. Chẳng hạn làng thợ mộc Bích Chu trên bờ sông Hồng, thuộc huyện Vĩnh Tường.  Làng đã nổi tiếng từ lâu ngày về các sản phẩm  di vật cỗ, đồ mộc tạo tác hình giả, chất giả. Các thợ mộc tay nghề giỏi  đã di cư khắp nơi, cạnh tranh khéo léo cùng các thợ mộc Nam Định và Sơn Tây, cũng đã lừng danh khắp nước. Tất cả 800 gia đình làng Bích Chu đều liên quan đến ngành mộc. Làng nay đã có  4 xí nghiệp tư thiết lập cách đây 10 năm và hai công ty trách nhiệm hửu hạn thiết lập cách đây 2 năm.  Các dụng cụ làm đồ mộc nay cũng đã  chạy bằng điện và  các sản phẩm mộc đa lọai hơn, mẩu mực cao hơn về cả sản phẩm cao phẩm cho dân giàu có lẫn  sản phẩm bình dân. Ngòai các  giá treo áo quần, bàn ghế tủ giường, du khách có thể chọn mua những sản phẩm nghệ thuật cao như các  tượng gỗ thờ cúng trên bàn thờ  hay  các bảng  đồ sơn  mài đỏ, những khay bìa  mạ vàng kim hay hộp đựng hoa văn cổ truyền hoặc họa kiểu đẹp đẽ.  Đồ gỗ Bích Chu nay đã bày bán khắp mọi tiệm hàng  thủ đô Hà Nội. Vấn đề khó khăn của làng mộc Bích Chu là nạn khan hiếm gỗ  nguyên liệu.  Cho nên 200 – 3000 nghệ nhân thợ mộc Bích Chu  nay phải đến các tỉnh lân cận tìm việc . Chương trình trồng rừng Vĩnh Phúc  cần có thêm một hướng  khảo sát  phương cách da dạng, đa tầng hóa rừngv.v… trồng với những loài  nguyên liệu gỗ thích nghi cho tay nghề mộc Bích Chu .

 

         Hướng  về những cây trồng  lài vât nuôi cao giá , đúng thị trường- thị hiếu tương lai hơn, sản xuất  chăn nuôi cao phẩm hơn và đẩy mạnh thêm ngư nghiệp đất liền ?

        

           Năm 1998, như đã nói trên nông, lâm, ngư đã tạo công ăn việc làm cho 446100  người trong tổng số  532400  lao động đến tuổi làm việc. Vĩnh Phúc, cũng như nhiều tỉnh khác hy vọng , giảm tỉ số dân nông thôn vào năm 2020 ( ? ) xuống còn 40%  tổng số dân tòan tỉnh, nhờ gia tốc  đô thị - thị trấn hóa, qua phát triễn công nghệ xây cất, thương mãi dịch vụ…  Nhưng như thế vẫn còn phải  nuôi sống và tăng lợi tức cho gần nữa triệu   nông dân lao động  Vĩnh Phúc . Lợi tức sản xuất nông nghiệp Vĩnh Phúc đã phục hồi năm 2008, tăng 7.2 % so với năm 2007, trị gíá  2 802 tỉ đồng VN ( theo chỉ số  giá cả 1994 ).  Mọi lọai cây trồng đều tăng thêm diện tích, sản xuất và năng xuất. Sản lượng cây lương thực quy thóc ( lúa ), không ngừng tăng từ năm 1997, phân bố tập trung ở các huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Lạc, Mê Linh, năm 2008 đạt 375100 tấn, lớn hơn  năm 1999  chỉ  351 000 tấn. Đặc biệt  thu họach cây lúa tăng đến  301 500 tấn so với 277 200 tấn năm 1999. Bắp – ngô năm 2008, còn tăng nhiều hơn  57. 3 % so với năm 2007 ;  năm 2008  đạt 73 500 tấn . Năng xuất lúa tuy đã đến mức cao nhất từ trước đến nay ở tỉnh, lên đến 5201 kg trung bình/ ha/ vụ ( năm 1999 chỉ  3820 kg/ ha ).  Nhưng năng xuất lúa còn có thể tăng thêm nhiều nữa vào nhiều hơn nữa, vì nay đã có các giống kiểu giống Thần Nông và các giống lúa lai – hybrid rice ,tiềm năng thâm canh lên đến 10 -12 tẩn ha/ một vụ. Tiềm năng năng xuất  các giống bắp- ngô lai tuyễn chọn trong nước nhà,  cũng còn cao hơn hiện tại nhiều. Nhưng muốn tăng lợi tức nông dân thì phải cải tổ cơ cấu điền địa, tổ chức sản xuất thị trường nông phẩm liên kết với thủ công hay công nghệ,  cải thiện đời sống cũng như văn hóa ( suy sụp nhiều ở Việt Nam  sau  mấy chục năm «  nồi da xáo  thịt nhau »  -giáo dục ( chưa đủ mạnh tri thức khoa học kỷ thuật để tiến tới mạnh hơn, mau hơn )-y tế …cộng đồng nông thôn.  Xúc tiến mau lẹ  hơn nữa việc cải tổ - cũng cố kiểu mẩu hợp tác ( xã ) nông thôn, chương trình cải cách  tái xếp đặt, trao đổi các mảnh đất  nhỏ xíu quá phân tán rời rạc … ( như đã nói qua ở phần lạm bàn nông nghiệp  một số tỉnh miền Bắc … ) hầu  cung cấp các phương tiện – cơ sở sản xuất mới  cho nông nghiệp và cố chuyễn hướng qua những lọai cây trồng cao giá hơn ,có thị trường và đúng thị hiếu tương lai lớn hơn, hướng nhiều hơn ( ? ). Đó là tăng cường, bổ sung sản xuất rau xanh « sạch » cho các đô thị Hà Nội, Việt Trì, các vườn rau « cao cấp » ở các vùng Mê Linh, Vĩnh Yên, Vĩnh Tường, Yên Lạc ; các vườn trồng nấm ăn-mushroom ăn lọai mới như ở  tỉnh Đồng Nai, các hoa cắt cành  kiểu  hoa hồng … Hasfarm – Lâm Đồng – Đà Lạt, các lan địa phuơng Phalaenopsis, Dendrobium , Mokara trồng theo phương thức công nghệ sinh học hay hoa kiểng như đổ quyên( rhodoendron ) - đổ quyên giả ( azalea  )  mà nhiều lòai đặc thù Việt Nam đã tìm thấy ở khu Tam Đảo, những loài cây trái xứ mát  như mâm xôi ( dum,  thuần , ré.. ) – raspberries,  quất man việt - cranberry , quất đào mận tây xanh dương– blue berries, ngòai dâu tây giống mới Hoa Kỳ hay Úc  Châu,  những lòai mận tây lai xơ ri xứ mát – Cherry plum giống lai   Cherub , Cherium,  Pixie Sweet …, ngay  cả các Chuối Già « La Bà »  tuyễn chọn , nhân giống mới ( ? ) cấy mô  trong ống thí nghiệm ở Đà Lạt, hay  các giống dẽ bi – mắc đam – macadamia nuts   Đáng nêu lên là  trồng cỏ ngọt – stevia sweetener hiện đã trồng được trên 1000 ha  cỏ ngọt cao sản  dùng lá chế biến sơ khởi ở nhà máy tổ hợp Stevia Corporation ( hảng này  đã bán ra trên thế giới, năm 2010,  3500tấn  của 38 lọai lá cỏ ngọt  hảng chế biến)  tọa lạc tại thành phố  Indianapolis , bang Indiana , Hoa Kỳ,  đã đầu tư  ngày 24 tháng giêng 2012, dự trù triễn khai mạnh  ở tỉnh Vĩnh Phúc  năm 2013. Trên phương diện chăn nuôi, ngòai công tác Sind hóa thêm (  Sind là lọai bò Ấn Độ ) đàn bò tỉnh nhà , có lẽ cũng nên nghĩ tới nuôi bò cao phẩm Kôbê  ( các giống thuần dưỡng ở Mỹ , ở Úc ? ) hay nuôi heo lọai cao phẩm Bershire Nhật  kagoshima ( ? ) ngòai tiếp tục nạc hóa đàn heo đang làm.  Lẽ dĩ nhiên là cũng cần thực hiện mau lẹ hơn biến 6000 đất trũng Vĩnh Phúc thành những hồ nuôi trồng thủy sinh lọai cá rô địa phương đơn tính – unisexed anabas, cá chim trắng white  -butterfish ( ? )…,  nuôi trồng cá hồi nước ngọt Phần Lan, cá mè- trout xứ mát …ở hồ sông suối cao mát tỉnh nhà.    

 

           ( Irvine, Nam Ca Li,  ngày 31 tháng 7 năm 2012 )                           

 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 243648 visitors (902378 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=