thnlscantho-3
  Tản mạn về phú
 
27/9/2012

Tản mạn về phú
 



Sau khi bài phú
Hoàng sa nộ khí phú được lên trang nhà, chúng tôi nhận được nhiều lời khen về nội dung lẫn bố cục của bài, song song đó có bạn yêu cầu chúng tôi tìm hiểu và phổ biến về cách thức xây dựng một bài phú cho đọc giả còn trẻ tuổi hiểu rõ hơn loại hình nầy, đồng thời những người lớn tuổi có dịp ôn lại và bổ sung thêm kiến thức.
Chúng tôi tìm hiểu, sưu tập tài liệu, trao đổi với bạn bè…Đến nay xin ghi lại một vài nét chánh và mong đón nhận thêm đóng góp của đọc giả để hoàn chỉnh hơn.
1.     Phú là gì?
Phú là một thể văn có vần hoặc xen lẫn văn xuôi và văn vần, được viết ra để tã phong cảnh, kể sự việc, bàn chuyện đời, gửi tâm sự, nói chí của mình
Phú có loại một vần (độc vận) có nhiều loại vần (liên vận). Những bài phú dài thường nhiều vần, câu chữ thường đối xứng về thanh điệu. về ngữ nghĩa, theo thứ tự trong câu.
Các bài phú viết bằng chữ Hán thuộc thời Trần phần nào phản ánh được khí thế của thời đại chống giặc ngoại xâm, sức sống lớn lao và ý thức tự cường dân tộc, Có thể kể ra đây một số bài phú còn lưu lại như:Quân Chu Nhạc Phú của Nguyễn như Bật - Phú Hồng Thi của Trần Kế Xương - Hàn Nho Phong Vị Phú của Nguyễn Công Trứ - Tài Tử Đa Cùng Phú của Cao Bá Quát…
  2. Cách đặt câu trong phú
Cái mà ta gọi là câu trong phú bây giờ gọi là liên, có bốn thứ liên
Chúng ta có quyền chọn một trong bốn thứ liên, hay tài hoa hơn là dùng hết cả bốn (như bài HOÀNG SA NỘ KHÍ PHÚ).
( Đến đây chúng tôi xin mạo muội trích dẫn bài phú Hoàng Sa nộ khí phú vào nội dung bài viết, nếu có điều gì chưa đúng, đề nghị tác giả và bạn đọc bổ sung dùm).
a.     Bát tự gồm 2 vế mỗi vế 4 chữ:
Ngựa cũ quen đường // Bợm già lậm nết
b.     Song quan gồm 2 vế, mỗi vế trên(>4) chữ:
Từ Đông Chu bị họa thất hùng // Đến Hậu Hán bị xiềng Tam Quốc
c.      Cách cú gồm 2 vế mỗi vế 2 câu:
Ăn đàng sóng, nói đàng gió // Y như bợm già, kẻ cướp
Lộn bề ngược, tráo bề xuôi // Khác chi điếm già bịp bạc
d.     Hạc tất gồm 2 vế, mỗi vế 3 câu trở lên (>)
Thóang thấy vó câu Thường Kiệt / Khâm Châu ngàn dặm / Không còn bóng quỉ bóng ma
Chợt nghe tiếng sét Đống Đa / Quảng Đông toàn tỉnh / Chẵng tiếng con gà con vịt
3.     Cách bố cục trong phú
Một bài phú gồm có 6 phần:
1.     Lung: Bao quát ý toàn bài sẽ suy diễn ( Đoạn cùng màu )
2.     Biện nguyên: Là nói nguyên ý,gốc tích cho rõ ý đầu bài( Đoạn cùng màu)
3.     Thích thực: Là giải thích cho hết ý nghĩa ( Đoạn cùng màu)
4.     Phu diễn: Bài tỏ thêm cho rộng (Đoạn cùng màu)
5.     Nghị luận:Là bàn bạc (đoạn cùng màu)
6.     Kết: Là tóm tắt lại ý đầu bài ( Đoạn cùng màu)
 
 
Hoàng Sa Nộ Khí Phú
 
 
Ngựa cũ quen đường,
Bợm già lậm nết.
Việc phế hưng sử sách còn ghi,
Mộng bá chủ bao đời vẩn thế!

Thấy ngươi,
Từ Đông Chu bị họa Thất Hùng,
Đến Hậu Hán bị xiềng Tam Quốc.
Đất Trường An thây chất chập chùng,
Bờ Vô Định xương phơi chất ngất!
Đã biết,
Hễ gieo chinh chiến là kín đất đau thương,
Nếu động can qua thì mịt trời tang tóc.
Vậy mà ,
Chẳng lo điều yên nước no dân,
Lại quen thói xua quân cướp đất?
 Như nước ta,
 Một dải non sông, nam bắc một nhà,
Trăm triệu con dân, trước sau như một.
Hoàng Liên, Tam Đảo, Hồng Hà, Cửu Long , là máu là xương,
Phú Quốc, Côn Sơn, Trường Sa, Hoàng Sa là da là thịt.
Máu xương đâu thể tách rời,
Thịt da dễ gì chia cắt?
Mà là tổ quốc phồn vinh,
Mà là giang sơn gấm vóc.
Người trăm triệu nhưng vốn một lòng,
Cả dân tộc chung lo việc nước!
Nữ nhi chẳng thiếu bậc anh hùng,
Niên thiếu cũng thừa người kiệt xuất.
Mười năm phục quốc, gươm Lê Lợi thép vẫn sáng ngời,
Ba lượt phá Nguyên, sông Bạch Đằng cọc còn nhọn hoắt.
Thùng! Thùng! Thùng!, trống Ngọc Hồi hực bước tiến quân.
Đánh! Đánh! Đánh! Điện Diên Hồng, vang lời sát thát.
Ải Chi Lăng, Liễu Thăng chết chẳn toàn thây,
Sông Nhị Hà, Sĩ Nghị chạy gần vỡ mật.
Thoáng thấy vó câu Thường Kiệt, Khâm Châu ngàn dặm, không còn bóng quỉ bóng ma,(1)
Chợt nghe tiếng sét Đống Đa, Quảng Đông toàn tỉnh chẳng tiếng con gà con vịt. (1)
Hùng khí dậy trời Nam
!
Nghĩa nhân tràn đất Bắc!
 Thương lủ bại binh, cho về còn cấp xe,cấp ngựa .Trọng kẻ trung can, hổ tướng chết vẫn được khói hương chăm chút.(3) Mạc Cửu đem quân lánh nạn, Chúa ta vẫn mở dạ đón người, Hoa kiều mượn đất ở nhờ, dân ta vẫn chia cơm xẻ áo. Phúc cùng hưởng khi mưa thuận gió hòa, Họa cùng chia lúc sóng vùi gió dập. Giúp các ngươi, kẻ tha hương,Thương các ngươi như người chung bọc!
Thế mà ,
 Ngươi lại lấy oán trả ơn,
Ngươi lại lấy thù báo đức!
Ăn đàng sóng, nói đàng gió, y như bợm già, kẻ cướp.
Lộn bề ngược, tráo bề xuôi, khác chi điếm già bịp bạc.
Đổ bộ Hoàng Sa, Tấn công Đá Bắc. Chẳng chấp hải qui, Chẳng theo công ước. Quen nết xấc láo, giở giọng hung tàn, Thói cũ nghênh ngang, chơi trò bạo ngược.
Ngươi có biết; dân tộc ta:
Từng đánh bọn ngươi chỉ với ngọn giáo dài, Từng đuổi bọn ngươi chỉ bằng thanh kiếm bạc. Từng đánh Tây bằng ngọn tầm vông, Từng đuổi Nhật với thanh mác vót!
Vì khát tự do mà uống nước đìa, Vì đói độc lập mà ăn cơm vắt. Sá chi tóc gội sa trường, Đâu quản thây phơi trận mạc.
 Hãy liệu bảo nhau,
 Nhìn thây Gò Đống mà liệu thắng liệu thua,
Thấy cọc Bạch Đằng mà nghĩ sau nghĩ trước!
Đừng để Biển Đông như Đằng Giang máu nhuộm ,
Đừng để Hoàng Sa là Đống Đa xương trắng !
Nếu ngươi dựa vào hỏa tiển, phi cơ,
Thì ta cũng có tuần dương, đại bác.
So vũ khí, thì kẻ nhược người cường,
Đọ trái tim, coi ai gang ai sắt?
Thư hãy xem tường, Hoàng Sa hạ bút!
  1. Cách gieo vần
Có nhiều cách gieo vần:
a.      Độc vận: toàn bài từ đầu đến cuối chỉ gieo một vần
b.      Liên vận: Bài phú có nhiều vần liên tiếp. Mỗi đoạn chuyền tiếp là một vần mới
c.       Hạn vận: Bài phú bắt buộc phải theo đúng thứ tự các chữ trong một câu cho sẵn để làm vần cho đủ, không được gieo vần khác vào
d.      Phóng vận; Vần nào cũng được
  1. Luật bằng trắc
a.       Những chữ ở cuối mỗi vế phải theo luật bằng trắc là: chữ cuối ở vế trên trắc thì chữ cuối ở vế dưới bằng hay ngược lại
Ngựa cũ quen đường(b) / Bợm già lậm nết(t)
b.      Trong một vế có nhiều đoạn nhỏ, thì chữ cuối của đoạn nhỏ ở trước, gọi là chữ đậu câu, phải nghịch thanh với chữ cuối cùng của vế ấy. nghĩa là chữ cuối của vế là bằng thì các chữ đậu câu ( chữ cuối của đoạn nhỏ) trong vế ấy phải là trắc hay ngược lại
 Ngựa cũ quen đừờng(b)
            Bợm già lậm nết
Việc phế hưng sử sách còn ghi
Mộng bá chủ bao đời vẫn thế (t)
 
Qua các phân tích, rõ ràng bài HOÀNG SA NỘ KHÍ PHÚ là bài phú thuộc lọai xuất sắc, chứng tỏ tác giả là một tay thượng thừa trong thể loại phú. Khi đọc hình như có nhạc trong đó, lúc trầm, lúc bỗng, lúc thiết tha khi thì ai oán,có lúc hùng tráng,khẳng khái. Khi thì thăng trầm khoan thai…
Trong tình hình hiện tại của đất nước, chúng tôi nghĩ thể loại phú rất thích hợp cho việc chuyển tải tinh thần khí khái dân tộc, thúc giục lòng yêu quê hương tổ quốc.
Chúng tôi sẽ cố gắng liên hệ với những tác già tài ba để chuyển thêm các bài phú xuất sắc nữa
*Tài liệu tham khảo:
- Phú -tác giả-Phương Lan
-Tản mạn vế phú -tác giả- nhunguyen@thuvienvietnam.com
 
Dương văn Phương
                                                              
                                                    
 
 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 239552 visitors (887267 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=