thnlscantho-3
  Steroids
 
Lên mạng ngày 14/3/2012

Việt Nam cần lưu ý nhiều hơn đến những thuốc “ bổ sung - bổ dưỡng”… từ Trung Quốc, Đông Âu, Tây phương , có thể là thành quả rẽ tiền:
 
Tiến bộ nghịch lý, bất hợp pháp ở ngành hóa học bóng tối làm steroids, ma túy …
G S Tôn Thất Trình

Ma túy Krokodil ăn thịt người nghiện
 
Thuốc phiện ma túy Krokodil hay desomorphine tổng hợp dễ dàng
Chiếu theo tài liệu đăng tải ở Nguyệt san Khám Phá , Hoa Kỳ số tháng 3 năm 2012, thì nay các la bô chế “thuốc” steroids, ma túy – narcotics, psychedelics đang lan tràn tự do kín , bí mật khắp thế giới .Thí dụ điễn hình nguyệt san nêu ra là khủng hỏang thuốc ma túy chế tạo tại gia – home brewed drugs ở Nga. Meth tinh thể - crystal meth ở các la bô kích thước nhỏ khắp nước Hoa Kỳ đang gây ra tổn thất lý học to lớn , làm thối hết lợi và hư hết răng các người sử dụng.
 

Krokodil làm thố da
Thế nhưng ảnh hưởng xấu xa của meth không thấm thía vào đâu so với thuốc phiện – opiate chế tạo tại gia, chích gân máu – intraveinous, nay ngập đầy nước Nga. Thuốc phiện này có tên Nga là Krokodil đến từ một dấu hiệu sử dụng rùng rợn : mô thân thể quanh nơi chích thuốc chết đi và thành qủa miếng da trở nên xám xanh và trổ vãy như trên da cá sấu vậy đó . Chất desomorphine, như tên gọi Krokodil trước đó, có thể nung nấu tại nhà, căn cứ trên một công thức pha chế trên đường dây – on line , chỉ cần có sẳn các thành phần dự liệu. Codeine, thành phần tích cực được bán ngòai kệ hàng, khắp nước Nga ở các thuốc trị ho và diệt đau đớn – pain killers . Các thành phần khác là những món có ở gia thất gồm chất sơn làm lỏang, iodine và lân – phosphorus đỏ, cạo từ các túi diêm giấy – matchbook. Krokodil là biện pháp cuối cùng cho ai không mua được bạch phiến – heroin hay các thuốc ma túy chích gân khác, theo lời nhà khảo cứu y tế công cọng người Nga, Kirill Danishshevskiy. Giá nó chỉ 1/10 bạch phiến , nhưng hiệu quả ngắn hơn; người nghiện phải tiêm thuốc 7- 10 lần một ngày mới qua khỏi cơn nghiện. Dù rằng thống kê rất hiếm, Nga, một quốc gia 140 triệu dân, có thể có đến 1 triệu người dùng krokodil, theo ước tính của Anya Sarang, một nhà đề xướng y tế công cộng, đang họat động cùng các tay sử dụng thuốc ở thủ đô Moscow. Độc hại của thuốc có ảnh hưởng tàn nhẫn hơn kiểu da cá sấu nữa đó. Những vùng mô – tissue có thể thối đi, có khi đến tận xương. Trong những ca nghiêm trọng, xương cũng thối.Tay nghiện thường bị bó buộc cưa chân tay và dễ nhiểm bệnh thứ cấp tỉ như ho lao. Sarang cho biết là nhiều tay sử dụng bị mắc vào vòng lao lung này đã phải chế thuốc và dùng thuốc; họ không đi khám bác sĩ, và nếu vài người nghiện có đi khám bác sĩ đi nữa, các bệnh viện Nga không trang bị đủ để giúp họ. Đời sống các tay nghiện krokodil, sau khi họ dùng thuốc chỉ kéo dài 2 năm thôi.
Hiện phỏng ước có đến 3 triệu dân Hoa Kỳ sử dụng bất hợp pháp các steroids đồng hóa để thân thể cơ bắp to lớn hơn

Steroids
 
Không một ai mơ tưởng lớn thêm lên và chỉ tìm ra một công ăn việc làm lương bổng thấp tại bang New Jersey,Hoa Kỳ chế tạo hóa chất dùng làm thuốc gội đầu – shampookeo tóc – hair gel. Lui lại về năm 1991, khi một cán sự la bô 24 tuổi, Patrick Arnold, đứng một mình trong phòng khuấy trộn những tác nhân làm đặc quẹo trong các vạc - vats chất dính – goo, còn rất nhiều thì giờ để phản chiếu những xoắn vặn số mệnh đã buộc tội hắn phải họat động ở một nơi “ không bao giờ có tí gì đáng ưa thích xảy ra” trong một công việc “ không đi tới đâu cả thảy”. Phải mất hàng tháng mới tìm được cách thóat ra, nhưng lối mòn vẫn luôn luôn hiện điện trước mặt hắn. Arnold là một kẻ say mê nâng ( cử) tạ - weight lifter , khổ sở vì thân thể trung bình từ lâu không còn cộng tác với hắn trong cố gắng muốn trở thành lực lưỡng hơn, to lớn hơn. Ngay cả như thế, mỗi đêm sau khi làm việc, hắn tiến tới một trong số nhiều sân tập thể dục, nơi đây hắn bơm thêm sắt - iron và thảo luận cùng các tay lực sỉ cử tạ. Câu chuyện thường xoay quanh vấn đề steroids đồng hóa – anabolic. Arnold đã học môn chánh là hóa học tại Viện đại học New Haven và bàn cải trong phòng cử tạ đã làm hắn suy tư.

Patrick Arnold
Một buổi trưa sau khi bắt đầu các phản ứng trong ngày khi làm việc, Arnold bước xuống hành lang đến thư viện hóa học trong tầng lầu la bô hắn và ngước đầu nhìn các cấu tạo phân tử các steroids, nói đến trong các tuần báo bắp thịt hắn mua. Steroids đồng hóa, chủ yếu là testosterone tổng hợp vừa mới được tuyên bố là những chất kiểm sóat, cho nên có rất nhiều thông tin về chúng. Rất mau lẹ thông tin đập mạnh hắn: “ tôi ghét công việc tôi đang làm, tôi ngồi ở đây, tôi đã có một la bô – tôi có thể tự mình chế tạo ra một vài điều này. Sẽ không một ai biết là tôi đang làm gì” . Arnold thêm rằng các tiền thân của steroid hắn cần cho các hóa chất la bô, có sẳn ở danh sách thường lệ hắn đặt mua xuyên qua công ty, và không ai khôn ngoan hơn.
Tiến bộ chậm rì lúc đầu tiên. Thường khi hắn đặt mục tiêu làm ra một sản phẩm hắn biết phải tạo ra một cơ cấu tinh thể, nhưng cuối cùng lại là một chất dầu dính trong chai lọ. Theo Arnold đó là một dấu hiệu “cẩn trọng” chớp sáng, một chỉ dẫn là những dơ bẩn tiềm năng độc hại và các chất làm phản ứng- reactants còn sót lại đã sai lầm, không phân chia ra khỏi chất pha chế – brew. Nhưng sau một thời gian hắn thành chuyên viên dùng các chất hòa tan để rửa sạch các chất dơ bẩn, các chất làm phản ứng và các hợp chất hắn làm ra càng ngày càng trở nên trong suốt như nhũng tinh thể nước đá, chứng tỏ là độ thuần túy rất cao. Càng chủ trì, Arnold càng tăng thêm thích thú trí tuệ. Rồi hắn dành 10 giờ một tuần lễ thăm viếng các thư viện, lược qua các môn bài tăm tối và các tạp chí khoa học tìm kiếm những hợp chất có cơ cấu phân tử đáng thám hiểm thêm. Cuối cùng, hắn dừng lại ở một công thức hắn tìm thấy ở một tạp chí Thụy Sĩ, tên là Helvetica Chimica Acta thời 1930, hắn dịch bằng một tự điển Anh - Đức. Nó mô tả chi tiết tổng hợp mestalonone , một steroid đồng hóa đầu tiên trên thế giới. Arnold hình dung là hắn sẽ làm một thử nghiệm tốt lần thứ nhất, vì ảnh hưởng của steroid này đã được biết rỏ rộng rãi, khác hẳn vài hợp chất xa lạ hắn chế tạo ra.
Ở la bô , Arnold quan sát các sản phẩm phụ xanh xanh rửa chảy và các tinh thể hình thành. Khi quang phổ kế khối lượng – mass spectrometer trình bày một dáng giống y hệt dáng hắn đang tìm kiếm, hắn làm hòa tan hợp chất trong propylene glycol, một chất làm hòa tan không mùi, biến mestanolone thành chất lỏng. Hắn làm ngay cách ăn uống một ngày 75 milligram chất này. Hắn nói: trong chất này không có thứ gì làm tôi tổn hại cả. Nhưng tôi rất cẩn thận. Tôi giữ cho nồng lượng luôn luôn luôn ở mức phải chăng. Tôi không dùng nó hơn vài tuần lễ.
Vài mức độ không chắc chắn sánh ngang hàng nhau như thế trên thế giới về cách thức hóa học tự mình làm lấy- do –it - yourself ( DIY )chemistry và một số người theo thuật luyện đan kinh doanh nổ bùng lên từ những năm Arnold nuốt vào họng những pha trộn hóa học đầu tiên và tiếp tục trở thành một trong những nhà hóa học ngầm danh vang ở Hoa Kỳ. Đây là một thủ tục đã có từ lâu: dưới hình thức này hay hình thức khác, vài nhà hóa học đã họat động ngòai vòng pháp luật, trước khi phát minh ra đèn đốt – burner Bunsen. Nhưng Internet đã sinh ra một thời đại hòang kim hóa học bồn tắm. Trước đây chưa bao giờ dễ dàng thu nhận được những chỉ dẫn, phân tử tiền chất và những khả năng chế tạo sản xuất những hợp chất lạ lùng xa xôi, không điều hòa, kích thước đại trà hay in ra nhũng công thức thô hào cho các thuốc men bạn tự làm lấy. Thành quả, một thế hệ mới doanh nhân hiểu biết Internet đã thả lỏng một lọat dàn trải mỗi ngày mỗi đổi thay những sản phẩm tại các chợ tạp hóa bán thuốc trong bóng tối, ở không gian điều khiển học – cyberspace, trong khi các ác ôn ma túy sẳn sàng nung nấu ra những hợp chất đơn giản ở phòng bếp nhà chúng.
Những chất DIY làm thành một rặng dài kiểm kê các thuốc sinh cường biểu diễn – performance enhancing drugs các kẻ bậy bạ( bừa bải ) ở sân thể dục đang cố làm thân thể to bự lên, tiêu thụ từ một lựa chọn các hợp chất tác động đến trí tuệ cư xữ các thiếu niên nhảy nhót thử mẩu, đến những ma túy lõi cứng các biến đổi tổng hợp các kẻ nghiện ngập ma túy ngấu nghiến. Các người tiêu thụ thí nghiệm những pha trộn hóa học không được điều hòa này cư trú tại những thế giới khác biệt nhau : sân thể dục, kẻ thèm khát điên cuồng và những gia thất tạo kết quả một thời gian ngắn nhất, nhưng các thuốc ma túy thường lại được sản xuất với các tiền chất mua tại cùng nơi và phát sinh từ những công thức mua bán nhiều cùng những vị trí web – websites. Chúng cũng mang theo vài hiểm nguy như thế .
Mức khéo léo và thái độ cũa những nhà hóa học bồn tắm thay đổi rộng lớn, không những gồm các stuđiô ( xưởng nhỏ ) lọai hướng về khảo cứu như Arnold, cũng như của những kẻ bất chấp nhẫn tâm và kẻ ngu si tội đồ. Danh sách những hợp chất chế tạo ở nhà có thể sai lạc thật là dài dòng. Một thí dụ ghê rỡn đến từ những thám hiểm hóa chất do Internet hướng dẫn của những người tham vọng dùng methamphetamine. Trong cố tâm tổng hợp meth tinh thể, các tay DIY này đã gây ra một bừa bải nổ tung các xe móoc công viên và thường thiếu sắc sảo sản xuất ra thuốc ma túy phủ đầy các chất độc hại như acid hydroiodic. Cách tốt nhất lấy đi những phó sản độc hại này là rữa sạch thuốc trong rượu cồn – alcohol sử dụng một phểu Buchner, một thiết bị la bô làm chân không đặc thù. Thế nhưng đa số nhà hóa học phòng bếp lại chưa bao giờ nghe nói đến nó cả. Khi giai đọan thuần nhất hóa cuối cùng này bị bỏ qua, các chất độc tố sẽ ăn mòn hết lợi, răng và màng bên trong má người dùng: thành quả là điều kiện không còn răng, hổng lỗ hết, có tên là “ mồm- miệng meth mouth” .
Khuynh hướng đang tiến triễn mau lẹ là một hạng hợp chất phức tạp các nhà hóa học đã được huấn luyên như Patrich Arnold đang cố gắng tìm kiếm những steroids lạ lùng hay những hợp chất ma túy mới mẽ. Chỉ trong 2 năm qua, sử dụng các chất kích thích tổng hợp sản xuất ra các chất tương tự meth cao độ, bán ra thị trường dưới tên “ muối tắm – bath salts” bùng nổ mạnh mẽ. Trong năm 2010, 41 chất ma túy – psychoactive substances mới đã được các quốc gia Âu Châu báo cáo, nghĩa là gấp 3 lần số lượng xác nhận năm 2008, chiếu theo báo cáo của Trung tâm Theo dõi Ma túy và Nghiện Ma túy Âu châu – European Monitoring Centre for Drugs and Drug Addiction. Hoa Kỳ không có thống kê tương tự nhưng những chất ma túy này cũng cuối cùng hiện diện ở Hoa Kỳ. Những chất mới gồm những dẫn xuất – derivatives của PCP và cocaine – côcain cũng như các dạng mới của cần sa – cannabinoids tổng hợp, những hợp chất tương tự tetrahydrocannabinol, thành phần tích cực của cần sa – marijuana .
Rất nhiều các chất ma túy này là những hợp chất ít ai biết tới, chọn lọc từ những tạp chí khảo cứu tăm tối , lọai những tuần san Thụy Sĩ Arnold tham khảo. Trong khi vài steroids đã đăng tải nguồn gốc một đường mòn khảo cứu, đa số các chất ma túy mới chưa bao giờ được thử nghiệm trên con người, mãi cho đến khi chúng xuất hiện trong các câu lạc bộ hay các tiệc tùng. Khi những công thức này lọt vào dòng chánh, chúng thường biến thành virus xuyên qua các vị trí web nơi các nhà hóa học và các doanh nhân mọi màu sắc trao đổi công thức.
Cuối cùng ra, những thuốc ma túy này có thể được các nhà hóa học thuê mướn ở Trung Quốc sản xuất đại trà ( số lượng lớn ), quảng cáo trên trang web là “ tổng hợp hửu cơ thường lệ - custom organic synthesis” và nhận đặt hàng từ nhóm các nhà hóa học vô lại xuyên quốc gia – transnational đang trổi dậy.Theo Nathan Messer, chủ tịch tổ chức bất vụ lợi Dancesafe, cung cấp thử nghiệm ma túy tại các lễ hội và tiệc tùng,” ở đây có rất nhiều người khôn ngoan biết cách nào đọc các trang hóa học. Họ thường bắt đầu tự làm và nếu thành công họ sẽ kiếm khế ước ở Trung Quốc, thiết lập một dây chuyền phân phối, mua từng khối và bán ra”.
 
Ảnh hưởng của những thuốc ma túy mới không được điều hành trên thân thể như thế nào thì điển hình cũng chưa ai biết rỏ. Chúng thường được lựa chọn vì các cơ cấu hóa học giống như các thuốc ma túy bất hợp pháp, tỉ như MDMA ( thuốc xuất thần, mê ly – ecstasy ), “nhạy cảm – speed”, hay côcain, nhưng cũng đủ khác biệt hầu được xem là hợp pháp hay có thể mua bán ở Hoa Kỳ “ như thể không cho người dùng” với một thóang tín nhiệm . Vài người bán chúng hy vọng là phân biệt này sẽ giúp họ tránh khỏi một luật 1970, cho phép chức quyền khởi tố những thuốc gần như tương tự các chất bị cấm lưu hành, nếu chúng chủ tâm cho con người dùng. Đối với các nhà hóa học ngầm, hướng cố gắng vào thị trường song song cho các thuốc sinh cường hiệu quả, vặn xoắn vài phân tử hay nung nấu một hợp chất mờ tối, đa số dân gian không biết rỏ hiện diện, làm cho một chất cấm dùng các nhà thể dục chuyên nghiệp không dò ra được, vì chưng họ cần một mẩu quy chiếu mới nhận ra nó. Lọai hóa học phòng bếp này có những thành quả rất tai hại. Suốt 2 thập niên 1970 và 1980, hàng tá các người sử dụng thuốc đã tiêu thụ nhiều mẻ thuốc làm tại gia lọai thuốc phiện tổng hợp tên gọi là MPPP gây cho chúng những triệu chứng của bệnh run rẫy Parkinson. Nguyên nhân là một sai sót hóa học thú vui thế tục. pH trên một phản ứng quá thấp bé nhỏ, khiến cho thuốc ép ra một phân tử duy nhất nhỏ của acid propionic, biến nó từ một chất ma túy uy vũ thành một thuốc độc để lại phế thải ở các chất nhận –receptors dopamine nảo bộ .
David Nichols, giáo sư khoa dược học Viện đại học Purdue biết rỏ điều gì sẽ xảy ra, khi khảo cứu các hóa chất len lõi vào các la bô ngầm. Ông đã mất hàng chục năm cho chuột ăn LSD , mescaline, các dẫn xuất MDMA trong một cố gắng làm đồ bản các chất nhận của nảo các chất ma túy hành động trên đó. Ông họat động bằng cách vặn xoắn các cơ cấu hóa học của thuốc, đôi khi thay đổi chỉ vài phân tử để xem ảnh hưởng là gì trên tương tác giữa thuốc và các chất nhận của nảo, các hợp chất bà con thường hành động trên đó.
Thọat tiên Nichols nhận thức là các nhà hóa học bậy bạ ( bừa bải ) đã theo dỏi khảo cứu của ông làm cách đây hơn 10 năm rồi, khi một dẫn xuất chất xuất thần- mê ly tên gọi là 4- methyl thioamphetamine ( MTA) xuất hiện tại một câu lạc bộ Âu Châu. Trên một bài bản đã đăng tải, Nichols báo cáo là chuột thử nghiệm đã được huấn luyện ấn vào một đòn bẩy khi được cho MDMA , cũng đụng vào nút khi cho MTA. Điều này tuồng như đã đủ gây chú ý nhà hóa học bậy bạ đang tổng hợp thuốc tái mệnh danh nó là flatliners và bán nó ở Hòa Lan. Lựa chọn tên này là một báo hiệu bệnh họan. Đến năm 2002, flatliners đã giết chết ít nhất là 6 người. Nichols tin rằng họ chết vì dùng quá liều serotonin, một chất phát truyền dây thần kinh, có thể đưa tới giảm nhiệt nguy hiểm – hypothermia , bắp thịt suy nhược, và lên cơn động kinh. Thật ra flatliners không giải tỏa dopaminenorepinephrine phần lớn tạo ra ảnh hưởng sảng khóai của ngất ngư -mê ly. Nhưng như chất làm xuất thần mê ly, nó giải tỏa ra những nồng lượng lớn serotonin, và can thiệp vào các cố gắng làm suy nhược thân thể. Tuồng như đúng là những phản ứng Nichols ghi trên chuột, khiến chuột nhận thức ra, chạy lẹ đến serotonin do MDMA gây nên. Nichols tin rằng khi một lượng đầu tiên của flatliners thất bại không sản xuất được sảng khóai như xuất thần mê ly, các người dùng ma túy mong chờ, họ tăng thêm nồng lượng và tăng mãi cho đến khi thuốc giết chết họ.
Dù chết chóc bi thảm mấy đi nữa, Nichols lại lo âu về điều gì sẽ xảy ra khi các hợp chất ngầm gây ra các biến chứng ít rỏ rệt hơn và khá lâu hơn mới phô bày ra. Ông nói: đây là lo sợ lớn nhất của tôi. Hãy giả thiết là ai đó đang chế tạo một thứ gì như thể thuốc xuất thần- mê ly ? Và đó là một thành công lớn cho họ. Nhưng không biết được cách gì thuốc phản ứng trên phần còn lại của thân thể. Hãy giả thiết là nó giết chết tế bào lá lách – pancreas hay một bộ phận nào khác ? Và giả thiết là dân gian dùng thuốc này mỗi cuối tuần ? nếu một cặp nào đó chết thì vẫn gần như không giống thảm kịch, khi cả trăm ngàn người bổng nhiên cần phải cấy tim.
Mike Cole, nhà khoa học ngành pháp y ở viện Anglia Ruskin, Cambridge, Anh Quốc đã làm khảo cứu cho thấy là Nichols đúng lý lo âu vấn đề. Cole đã nghiên cứu một lọai thuốc phát triễn chống lại sâu ký sinh trùng ở ngành chăn nuôi súc vật. Nay thuốc đã được sản xuất khối lượng lớn ở Đông Á và được rao bán tại các buổi tiệc tùng Cựu Kim Sơn – San Francisco và vài nơi khác như thể là một thay thế “ hợp pháp” và “an tòan” cho thuốc xuất thần – mê ly. Tên thuốc là benzylpiperazine, chế tạo ra không khó khăn gì mấy. Chỉ cần một nhà hóa học khởi động một phản ứng giữa hai hóa chất trong một chai lọ -flasks làm nguội chúng cho đến khi các hợp chất phối hợp thành các tinh thể và thuốc kết tủa ra ngòai .
Nhưng thuốc kết tủa, Cole đã chứng minh ở la bô, có thể rất độc hại cho thận. Cole nói: “ nếu bạn gíup việc cho một công ty hóa học, , bạn sẽ phải làm sạch cho sản phẩm cuối cùng. Nhưng các kẻ ngòai đường phố không lý gì đến điều này cả . Chúng đang cố tâm làm lời tối đa và bạn có thể phải chịu những ảnh hưởng độc hại, khi không thực hiện tiến trình làm sạch sản phẩm. Trong khi đó, rất nhiều steroids xây dựng thân thể lực lưỡng đã cho thấy là gây ra các rối lọan gan và thận và đàn ông không sinh con được. Những biến chứng này xảy ra tùy thuộc về sức mạnh và liều lượng tiêu thụ các hợp chất, và ai ít biết rỏ các lọai sreroids này thì lại càng khó dùng cho đúng liều lượng. Ảnh hưởng sau nhiều năm dùng các ma túy mới này cũng rất khó qui định. Theo Charles Yesalis, giáo sư danh dự Viện đại học Penn State, một chuyên viên sáng giá nhất về steroids, chúng ta chưa làm nghiên cứu tính cách dịch tể ảnh hưởng dài hạn. Và nếu chúng ta không biết các ảnh hưởng dài hạn của những thuốc “đã biết” của những công ty dược phẩm thì chắc chắn là chúng ta sẽ không biết các ảnh hưởng của các thuốc “chưa biết”.
 
Tiếp tục câu chuyện Patrick Arnold ...
Một tuần sau khi Arnold dùng nồng độ đầu tiên mestanolone lỏng, đời sống hắn thay hay đổi hẳn. Số lượng hắn dùng tăng mãi đến gần 15 ki lô. Chẳng bao lâu áo quần hắn chật ních, và bắp thịt hắn phồng to lên cao, trỗ nhiều gân xanh mới. Biến đổi lý học này không còn dấu diếm được nữa, ai cũng thấy, nhưng hắn bất cần. Arnold trở về lại bang Connecticut và học cao học Hóa học ở viện đại học tiểu bang. Hắn cũng gia nhập nhóm bàn cải trên Internet về thể dục sung sức và cử tạ. Dân gian bắt đầu tìm kiếm các lời hắn khuyên răn. Nhất là tay xây dựng thân thể Dan Duchaine, tác giả Sách Sổ tay Hướng dẫn Steroids Ngầm - The Underground Steroids Handbook . Duchaine đã bị ở tù 2 năm, vì buôn bán steroids. Duchaine giới thiệu Arnold với Ramlakhan Boodram, một doanh nhân xứ Trinidad, có nghiệp chế biến đậu nành và nông cơ ở thị trấn Champaign, bang Illinois và chế tạo các bổ sung dinh dưỡng cho bạn Duchaine. Arnold di chuyễn về miền Trung Tây Hoa Kỳ, thiết lập một la bô đồng trồng bắp ( ngô ), cố tụ điểm trên một môn bài hắn tham khảo qua các trích yếu hóa học. Môn bài đến từ một công ty dược phẩm Đông Đức tên gọi là Jenapharm , sản xuất đa số các hợp chất steroidal, dùng làm chương trình quốc gia kích thích – ma túy cho các lực sĩ quốc gia nguyên là Cọng sản này. Môn bài Jenapharm là hợp chất androstenedione, môt tiền chất tự nhiên của testosterone các tuyến thượng thận – adrenal glands , nghĩa là ngọc hòan ( hòn dái ) và buồng trứng sản xuất ra. Andro tổng hợp đã được sử dụng rộng rải như là môt tiền chất steroids ở các la bô. Môn bài lưu ý là nếu nuốt hormon này, chính các enzymes của thân thể sẽ xúc tác các phản ứng chuyễn hóa andro thành testosterone , trên lý thuyết cung cấp các lợi lộc sinh cường hiệu năng - performance enhancing, tương tự các steroids xuất dẫn từ chất này ở la bô.
Khi Andro Arnold bán ra thị trường, uy vũ của Andro lan tràn mau lẹ ở cộng đồng các lực sĩ, và danh tiếng Arnold nổi lên như cồn. Arnold đã lợi dụng danh vang này để kiếm tiền. Hắn tham khảo lại các tạp chí, rà dò các trích yếu làm các chuyễn hóa xảy ra tự nhiên, có cơ biến thành testosterone khi nuốt vào họng. Hắn sản xuất ra được nhiều tiền hormon. Năm 2003, hắn và đồng bọn thiết lập một la bô khảo cứu tân kỳ lớn, có máy phép sắc ký khí – gas chromatograph và nhiều khí cụ phân tích khác. Năm 2004, lợi tức la bô lên đến 12 triệu đô la Mỹ một năm.
Arnold tiếp tục thử nghiệm bí mật các chất steroids bất hợp pháp. Hắn trở về New Jersey và làm ra được một steroid đồng hóa chưa nơi nào biết, một hợp chất công ty Wyeth Pharmaveuticals ( nay Pfizer đã mua ) đã phát triễn thập niên 1960. Tên là norbolethone có một cơ cấu độc đáo không thể dò ra được, nhưng đồng thời cũng có nhiều đặc điễm của những steroids uy vũ hơn Arnold đã thử nghiệm. Khi còn là một cán sự lương bổng thấp cho một công ty hóa học, Arnold sẽ không bao giờ có được tiền chất tổng hợp quá đắt tiền progestogen tên gọi là levonorgestrel, thành phần tích cực của thuốc ngừa thai uống sáng hôm sau. Nhưng một hôm nói chuyện với một bạn đồng nghiệp ở một công bổ sung dinh dưỡng khác, Arnold nói đến norbolethone và vụ hắn không mua được tiền chất. Sau đó không lâu, một quà tặng đến từ Trung Quốc theo bưu điện là một gói levonorgestrel. Arnold nung nấu một mẻ norbolethone, thử đi thử lại cơ cấu phân tử với các dụng cụ của hắn, và nuốt một liều lượng nhẹ nhàng. Arnold nghĩ rằng hợp chất có lẽ an tòan. Hắn cho là một nồng lượng steroid không giết chết ai cả, dù khối lượng có to lớn đi nữa. Trong khi các thuốc ma túy có những ảnh hưởng tức thời không lường được, đầy kịch tính , steroids hành động cơ bản là tích cực hóa các gen ( es ), một tiến trình chậm rãi, chỉ dần dần làm những ảnh hưởng sinh lý hiện ra, dò được. Arnold tiếp: chỉ khi nào nuốt vào thường xuyên liên tục, bạn mới thấy xuất hiện những ảnh hưởng xấu. Hắn cũng thấy là nước tiểu hắn vàng đậm đi, làm hắn tin tưởng đó là ảnh hưởng đến gan. Năm 1961, Gordon Hughes đã sáng chế ra norbolethone như thể là một phần đề tài tiến sĩ -phD tại viện Đại học Manchester, Anh Quốc. Hughes phát triễn hợp chất này để giúp các bệnh nhân đã mỗ xẻ cần xây đắp thêm protêin, không bao giờ tưởng tượng là ngày nào đó các lực sĩ sẽ dùng nó. Bạn không biết là chúng thuần nhất được bao nhiêu phần. Chúng cũng chưa được FDA công nhận. Bạn không biết gì hết trọi về chúng. Đây cũng là cảm nghĩ của rất nhiều nhà khảo cứu hóa học khác. Giáo sư danh dự John W. Huffman, viện đại học Clemson, cũng đã mất 27 năm trời phát triễn các chất cùng chức năng sinh học với THC, thành phần tích cực của cần sa -marijuana. Huffman hy vọng hiểu được cách nào THC và các hợp chất tương tác với các chất nhận nảo bộ, để có thể chửa trị nôn mữa và tăng nhãn áp – glaucoma. Năm 2008, ông được biết là các hóa chất của ông được thương mãi hóa ở Đức dưới tên là ma túy –high “ hợp pháp”. Ông thở dài: có nhiều chứng lọan tinh thần- psychosis xuất hiện. Tôi hình dung là người nào cũng phải chịu trách nhiệm hành vi mình. Nếu họ dùng chúng, lẽ dĩ nhiên họ phải nhận lấy hậu qủa đau đớn.
 
Xì can đan các lực sĩ chóp bu dùng ma túy – steroids…. tổng hợp dễ dàng
 
Đúng như Arnold nghi ngờ, norbolethone quá mờ tối khiến cho các chương trình ( dò) ma túy chuyên nghiệp không có mẩu quy chiếu và như vậy không thể dò ra nó. Chính Victor Conte, một doanh nhân táo tợn, đã đẩy xa hơn các giới hạn mờ tối này. Ông làm chủ một trung tâm thể thao- dinh dưỡng ở thị trấn Burlingame , bang Ca Li có tên là Balco – labô hợp tác xã vùng Vịnh Cựu Kim Sơn. Qua Balco, Conte bán các bổ sung hợp pháp kẽm – magnesium , hiệu quả đáng đặt vấn đề và chiêu mộ các lực sĩ chóp bu đề xướng các bổ sung. Trong số các lực sỉ siêu sao thực sự phải kể ra Marion Jones, sau đó trở thành nữ lực sĩ chạy lẹ nhất thế giới và đọat 5 mê day ở một cuộc thi đua Thế Vận Hội và Barry Bonds sau đó phá kỷ lục ghi bàn ở bóng chày – base ball trong một mùa tranh đua. Ngòai cung cấp các thuốc bổ sung cho các lực sĩ này, Conte cũng cống hiến những steroids bí mật, bất hợp pháp bên cạnh thuốc bổ sung.
 
Arnold gặp Conte ở nhóm trò chuyện trên Internet, gửi tới Conte hợp chất mới. Conte đặt lại tên là “ trong sáng – clear” và bắt đầu phân phối cho các lực sĩ chóp bu. Chính Arnold cũng cung cấp “ trong sáng” cho cô đua đạp xe ở Thế Vận hội Tamy Thomas. Chính vì cô này nuốt quá nhiều thuốc khiến cho các chức quyền nghi ngờ điều tra thuốc. Thomas gạt ra ngòai lời khuyên của Arnold về nồng lượng, theo lời Arnold , và đến năm 2002 thì mọc lông trên mặt vì dùng qúa nhiều norbolethone. Khi mức testoterone của cô rớt xuống xa dưới các mức bình thường, các nhà thử nghiệm bắt đầu khảo sát nước tiểu của cô. Không bao lâu sau, họ đã xác định được các chất chuyễn hóa dẫn họ tới norbolethone.
Conte nghe phong phanh là chức quyền đã kề cận và yêu cầu Arnold tìm một hợp chất thay thế. Arnold liều đánh cờ bạc làm một di chuyễn hiếm có và táo bạo ở ngành hóa học ngầm. Hắn chế tạo một steroids hòan tòan mới mẽ. Hắn tra cứu Chỉ dẫn Merck Index, một cẩm nang quy chiếu tiêu chuẩn cho hóa chất, thuốc ma túy và nhiều hợp chất khác và đọc chương nói về hạng hormon liên quan tiền chất norbolethone. Hắn hy vọng tìm ra một tiền chất khác có thể biển thành một steroid, sử dụng cùng một tíến trình phân tử dùng làm ra norbolethone.
Arnold gạt bỏ ra ngòai vài chất vì hắn biết chúng liên hệ tới danh sách đang bị điều tra. Vài chất hắn biết qua kinh nghiệm có những đặc tính phân tử làm chúng yếu kém . Rồi hắn đụng tới tetrahydrodestrinone, một hợp chất chưa bao giờ được dùng trước đó hầu tạo ra một steroid. Chất này có các mối liên kết đôi - double bonds chứa ba carbon thay thế nhau , gọi là tiếp hợp – conjugations hẳn đã thấy trên các steroids uy vũ, cũng như thêm một carbon nữa hắn nhận thức là sẽ tăng thêm sức mạnh phụ vào. Hắn cho khách hàng 10 milligram một ngày và giảm xuống 5 milligram, khi hắn chắc chắn là hiệu quả. Thế nhưng Conte có nhiều kẻ thù, trong số này phải kể ra Graham, nguyên là ông bầu – coach của Marion Jones. Tháng 6 năm 2003, Graham gửi một ống tiêm chứa chất mới cho Cơ Quan Chống Ma Túy Hoa Kỳ. Chức quyền tiến đến nơi và phô bày một trong những xì can đan lớn nhất trong lịch sử thể thao. Năm 2005, Cơ Quan Liên Bang khám xét nhà và labô Arnold. Hắn bị kết án 3 tháng tù năm 2006. Điều tra bị kiện tụng kéo dài mãi đến năm 2010, khi cuối cùng Barry Bonds bị kết án 30 ngày giam giữ tại gia, vì đã cản trở công lý trong thời gian điều tra.
Ngoại nguồn ngày nay các chất steroids , ma túy tổng hợp …. là ở Trung Quốc
Don Catlin, thiết lập viên La Bô Phân tích Thế vận hội của viện đại học UCLA ở los Angeles, và là người cuối cùng đa xác định chất “trong sáng” của Arnold nói rằng hiện có hàng trăm steroids đã biết rỏ và ai đó có thể suốt đời ra công tìm kiếm chúng, thao tác chúng và biến chúng thành dạng có thể dùng trên con người. Arnold nói là khi thao tác các chất bổ sung riêng mình, hắn và Boodram là những biệt lệ trong ngành công nghệ này. Hầu như ngày nay không còn một ai chế tạo steroids hay các chất bổ sung nữa, vì công việc ngọai nguồn -outsource job đã làm ở Trung Quốc. Trên tư thế là một nhà hóa học ngầm được kinh nễ, vài khi Arnold được vài người khác trong ngành công nghệ mời thử các sản phẩm họ đã làm ra ở các xưởng máy Trung Quốc. Hắn nói rằng các xưởng Trung Quốc hay thay thế các steroids rẽ tiền cho các steroids đắt tiền; đôi khi còn bán các sản phẩm vô nghĩa - crap mà ngay chính Arnold cũng không tìm ra các đặc điểm ở các dụng cụ phân tích của hắn.
 
Vấn đề tương tự cũng phát hiện cho một làn sóng mới các chất hóa chất ma túy tổng hợp đại trà ở ngòai Hoa Kỳ. Ít nhất là đã có 5 người chết và hàng tá phải nhập bệnh viện, hợp chất tên gọi là Bromo- Dragonfly ( Rồng Bay ), phát minh lần đầu tiên ở labô Purdue của Nichols và nay chế tạo ở miền Tây Trung Quốc. Trên một mẽ chết người năm 2009, một người ở thành phố San José, Bắc Ca Li chết, sau khi dùng Bromo chế tạo ở Trung Quốc, chứa đựng “những dơ bẩn - impurities tổng hợp không đặc thù”
Cho nên góp phần vào tính cách độc hại của sản phẩm, chiếu theo trang web Erowid người dùng thuốc ngầm. Kẻ phân phối nó đã gửi thêm nhiều chất mẽ này đến các người tiêu thụ khác ở Đan Mạch và Y pha Nho, gây ra ít nhất một người chết khác và nhiều người phải chở đi bệnh viện. Tháng 5 năm 2011, một nhà chế tạo Trung Quốc gửi đến một sinh viên ỏ bang Oklahoma, một mẽ dán sai nhãn hiệu của Bromo, khi sinh viên này đặt mua một sản phẩm ít uy vũ hơn. Thành quả là có thêm hai người chết và nhiều nguời khác phải đi bệnh viện, khi họ dùng quá liều.
 
Thực tế thay đổi của một thế giới mà khảo cứu hóa học hợp pháp có thể bị bất cứ ai cướp đi, chỉ cần có một đĩa nóng hổi và một mối nối Internet, đã khiến cho Nichols phải tái xét tài năng mình. Ông họat động gần gủi Cơ quan Cưỡng bức Thuốc Ma túy – Drug Enforcement Agency để theo dõi các hợp chất mới và biết rỏ hơn những hậu quả khảo cứu của ông khi trở nên công cọng. “ nay khi tôi đăng tải, tôi phải suy tư là liệu chúng có trở thành vấn đề không đây ? nếu chúng tôi đăng tải một chất tương tự LSD , 10 lần mạnh hơn LSD , tôi cam đoan là sau 6 tháng nó sẽ tràn đầy trên Internet. Nichols tin rằng công trình ông sẽ giúp giải thích trí nhớ , trầm kha, ngay cả tính chất của hồi tỉnh. Ông nói : khoa học phải tiếp tục và ông không thể ngừng xuất bản. Nhưng nay ông biết là ai có thể đọc bài ông xuất bản” .
 
( Dịch xong ngày 29 tháng 2 năm 2012 ở Irvine, Nam Ca Li – Hoa Kỳ )
 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 233043 visitors (871435 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=