thnlscantho-3
  Phát triển tỉnh Vĩnh Phúc
 
5/8/2012

Khi nào tỉnh Vĩnh Phúc đuổi kịp Thành Phố Đà Nẳng ở Chỉ số Cạnh tranh  (Phát triễn) các tỉnh Việt Nam- Provincial Competitiveness Index ( PCI )  ? :

 

Lạm bàn phát triễn tỉnh Vĩnh Phúc , một tỉnh nữa trung du nữa đồng bằng - Sông Hồng ?

G S Tôn Thất Trình

 

Bà Trưng quê ở Châu Phong,

Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên

Chị em nặng một lời nguyền,

Phất cờ nương  tử thay quyền tướng quân.

Ngàn Tây nổi áng phong trần,

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.

Hồng quần nhẹ bước chinh yên,

Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành .

Đô kỳ đóng cõi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một trời đình nước ta.

Ba thu gánh vác sơn hà,

Một là báo phục,  hai là bá vương….

 ( Đại Nam Quốc Sử Diễn ca )

 

Phần I : Tổng quát

 

Vị trí và lảnh thổ

 

Vĩnh Phúc tuy là tỉnh vừa có đồng bằng, vừa có đồi núi thuộc vùng Đồng Bằng sông Hồng, nhưng cũng  là nơi tiếp giáp giữa trung du miền núi Đông Bắc và  châu thổ sông Hồng. Như vậy là vùng chuyễn tiếp giữa  vùng Đồng Bằng,  vùng kinh tế  trọng điểm Bắc Bộ  với các tỉnh  trung du miền núi phía Bắc  và xa hơn nữa là với Trung Quốc, làm ra một thị trường lớn giao lưu hàng hóa và các  dạng hình dịch vụ. Vĩnh Phúc nằm trên vành đai phát triễn công nghiệp quanh thủ đô trên quốc lộ số 2 và đường sắt Hà Nội -Lào Cai đi đến Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam -Trung Quốc, kế cận  cảng hàng không quốc tế Nội Bài, nay đã nâng cấp nới rộng. Trong khuôn khổ Ủy Ban Phụ Mê Kông Nới rộng – Greater Mekong subcommittee (GMS) , Ngân Hàng ADB  đã tài trợ  hơn 1 tỉ đô la Mỹ,  xây cất xa lộ cao tốc Nội Bài -Lào Cai qua 76 xã, 16 huyện, trong đó có các xã- huyện Vĩnh Phúc. Khúc Nội Bài- Yên Bái,  dài 121 km, xuyên qua tỉnh Vĩnh Phúc có 4 lằn ( mỗi hướng hai lằn ), trong khi khúc cao tốc Yên Bái – Lào Cai,  dài  123 km, chỉ hai lằn mà thôi. Đường xe lữa Hà Nội- Vân Nam qua tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã được nâng cấp.

Diện tích tự nhiên tòan tỉnh là 1370. 52 km2, một tỉnh nhỏ xếp hàng thứ 56 trong số 61 tỉnh, thành phố cả nước , chỉ trên các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên và hai thành phố Hà Nội, Đà Nẳng. Về phía Bắc, Vĩnh Phúc giáp các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên ; phía Nam giáp tỉnh  Hà Tây, phía Đông giáp  thành phố thủ đô Hà Nội và phía Tây  giáp tỉnh Phú Thọ. 

Vĩnh Phúc là tỉnh hợp nhất từ hai tỉnh  Vĩnh Yên ( thành lập từ năm 1890 ) và Phúc Yên ( thành lập từ năm 1905) vào tháng 2 năm 1950. Từ tháng 1 năm 1968  đến trước tháng 11 năm  1996, Vĩnh Phúc là một bộ phận  lảnh thổ  của tỉnh Vĩnh Phú, là tỉnh hợp nhất  giữa tỉnh Phú Thọ và tỉnh  Vĩnh Phúc. Năm 1903, tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa cũ được chuyễn về Phú Thọ, nên tỉnh Hưng Hóa cũ  được gọi là tỉnh Phú Thọ. Từ tháng 11- 1996, tỉnh Vĩnh Phú lại được tách ra thành 2 tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc.

Tỉnh Vĩnh Phúc  hiện nay có một thị xã  tỉnh lỵ là Vĩnh Yên, 7 huyện là Lập Thạch, Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Yên Lạc và Mê Linh; 7 thị trấn  là Bình Xuyên, Lập Thạch, Mê Linh,Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường và Yên Lạc.

Dân số năm 1999 là 1 098 000 người, năm  2005 là 1168 000 và năm 2010 là 1 190 000.  Các tộc dân tỉnh đa số là Kinh ( Việt ),  một ít tộc dân thiểu số  Mường, Dao, Sán Dìu, Sán Chày  và Tày 

 

                     Địa hình

 

Vĩnh Phúc có địa hình đa dạng, thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, dựa vào dãy núi  ở phía Bắc, đỉnh cao nhất  là 1591m, còn phía Tây và Nam  được sông Lô và sông Hồng bao bọc.  Chia ra  3 vùng sinh thái đặc trưng rỏ rệt: vùng núi, trung du và đồng bằng.

Vùng núi  có dãy Tam Đảo  dài khỏang 60 km,  nơi  thiết lập  một khu nghĩ mát cùng tên Tam Đảo, ở cao độ 879m . Đây là một vùng tiểu khí hậu đặc biệt, thuận tiện  cho khai thác các lọai hình du lịch, nghĩ dưỡng. Một số xã vùng cao có địa hình phức tạp.

Vùng trung du chiếm phần lớn  diện tích các huyện Tam Dương, Lập Thạch và Mê Linh. Về địa hình, trung du phân chia ra  núi, đồi và gò.  Núi thường  chỉ cao vài trăm mét, xưa kia tòan là rừng. Đồi thấp hơn, chỉ cao  70- 100m   trước đây cũng là rừng, nay là những nương sơn, nương sắn ( khoai mì )  xen lẫn các đồi cỏ tranh, sim, mua ….  Còn gò thì còn thấp hơn nữa, chứa nhiều đất bạc màu. Đây là vùng  tương đối còn quỹ đất  khá, đặc biệt là đất đồi, để phát triễn cây công nghiệp, trồng hoa màu kết hợp với chăn nuôi đại gia súc, trâu bò v.v…

Vùng đồng bằng gồm lảnh thổ các huyện Vĩnh Tường , Yên Lạc, Mê Linh và một số xã huyện Tam Đảo. Đất đai bằng phẳng, chủ yếu là phù sa mới hàng năm vẫn được bồi đắp nhưng không  nhiều, vì đời nhà Lý xây đê trị lũ lụt. Vùng đồng bằng Vĩnh Phúc là một thành phần tam giác đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình, bao gồm một hệ  thống gồm sông Đà, sông Chảy, sông Lô, sông Thương và sông Lục Nam bồi đắp ;  lảnh thổ các tỉnh Băc Ninh, Hà Nam,  Hà Tây, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc.  Thủ đô Hà Nội cũng nằm trong châu thổ sông Hồng.  Từ lúc xây đê, sông Hồng đổ phần lớn phù sa tại cửa biển thay vì trên đất liền, nên trong vùng châu thổ vẫn còn nhiều nơi trũng thấp.  Vùng đồng bằng Vĩnh Phúc  có hệ thống đê dài 164 Km , đê bồi  chưa được nâng cấp đúng tiêu chuẩn, nên đến năm 2000 vẫn còn  gần 3000 ha canh tác đất bãi ven sông luôn luôn bị đe dọa hàng năm. 

 

                  Đất đai

 

            Đất đai Vĩnh Phúc  chủ yếu là đất phù sa chiếm 62,2 % tổng số diện tích  phân bố tập trung ở vùng đồng bằng Các lọai đất khác là đất bạc màu, chiếm 24. 7 %  phân bố chủ yếu ở vùng trung du và đất đồi núi  chiếm 13.1 % . Đất phù sa ven sông được bồi tụ nhiều thế kỷ nên rất phì nhiêu. Những lọai đất phù sa trung tính ít chua - Eutric Fluvisols  nhều dưỡng liệu , khả năng thâm canh cao , thường trồng được hai vụ lúa mỗi năm. Đất phù sa  tiểu địa hình « vàn  thấp » là những đất phù sa chua – Dystric Fluvisols , thường bao quanh các đất phù sa trung tính ít chua . Vì dân số gia tăng, nên nay các đất phù sa phải trồng mỗi năm 3 vụ lúa hay hai vụ lúa, một vụ khoai tây, hoa màu khác hay rau đậu  ven đô dễ tiêu thụ và lợi tức cao.  Đất xám bạc màu trên phù sa cổ - Haplic  Acrisols ,hình thành gắn liền với quá trình sử dụng  canh tác lúa nước và quá trình rữa trôi và xoi ( bào mòn ). Hàm lượng hửu cơ hạn chế, dưỡng liệu thấp, năng xuất cây trồng cũng thường rất thấp. Các đất nghèo mùn , nghèo hửu cơ này ở Lập Thạch , Bình Xuyên , Vĩnh Tường , Yên Lạc  cần bón bón bổ sung các lọai phân hửu cơ ( có thể  chẳnghạn từ than bùn cọng thêm các vi sinh vật hóa mùn tuyễn chọn  thích nghi …). Các  đất chua , nghèo lân dễ tiêu  phân bố ở  Lập Thạch, Tam Dương, Mê Linh  phải bổ dung vôi và lân.  Đất feralít nâu vàng- Ferralic Acrisols trên phù sa cỗ, địa hình gò bằng , thấp thoai thỏi phân bố khặp các khu đồi  nơi tiếp giáp  đồng bằng và trung du tỉnh nhà, quá trình ferralit yếu kém hơn  đất ferralit vàng đỏ,  có kết von và đá  ong ngay ở 20- 30cm ; đất tơi xốp, tuy  hàm lượng các dưỡng chất  thấp, nhưng  nhờ địa hình thấp, dễ tưới nước,  nên có thể trồng nhiều lọai cây lương thực  và cây ăn trái ( ăn quả );  nhưng cần luôn luôn giữ ẩm độ cho đất ( Thái công Tụng -  Vietnammologica  số 6 – 2005 ).  Đất đai chưa sử dụng năm 2000 cũng  còn đến  trên 26 000 ha  chủ yếu ở Lập Thạch, Mê Linh, Vĩnh Tường, Yên Lạc. Trong số này, 17 000 ha là đất trống, đồi núi trọc, có thể  trồng cây lấy gỗ tốt và cây ăn trái như vải Thiều, nhãn … Vĩnh Phúc có  khỏang 3000 ha ao hồ, sông cụt có khả năng nuôi trồng thủy sản.  

 

                 Khí hậu

 

             Cũng như các tỉnh khác Bắc Bộ, Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu  nhiệt đới gió mùa, nóng nực và ẩm thấp .  Mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến  tháng 10. Mùa lạnh, mưa ít  tư tháng 11 đến tháng 4. Vũ lượng  trung bình ở Vĩnh Phúc  là 1500 – 2000mm. Tập trung vào các tháng  6, 7 và 8. Nhiệt độ trung bình hàng năm  là 23- 24 độ C . Riêng vùng núi Tam Đảo  nhiệt độ thấp hơn, chừng 18 độ C. Ẩm độ trung bình là 84- 89 %. Số giờ nắng  là 1340 – 1800 giờ / năm. Riêng vùng Tam Đảo  chỉ là  1000 – 1300 giờ/ năm. Chế độ gió mùa và sự thay đổi khí hậu trong năm tạo điều kiện cho thâm canh nông nghiệp, gieo cấy nhiều vụ trong năm,  đa dạng hóa nông nghiệp và tăng hệ số sử dụng đất. Bên cạnh đó, khí hậu cũng gây khó khăn không ít vì úng thủy, lụt lội, khô hạn, sương muối, lốc xóay ảnh hưởng có khi tệ hại cho sản xuất và đời sống. Vĩnh Phúc có tiểu vùng khí hậu Tam Đảo mát mẻ, còn giữ được nhiều vẽ hoang sơ, nhiều tiềm năng phát triễn du lịch.

 

               Thủy văn

 

            Tỉnh Vĩnh Phúc có hai sông lớn  chảy qua làm ranh giới phía Tây với các tỉnh Phú Thọ và Hà Tây. Đó là sông Hồng và sông Lô. Sông Hồng là sông lớn nhất miền Bắc, bắt nguồn từ Vân Nam, chảy qua Việt Nam  đầu tiên ở Lào Cai , qua thủ đô Hà Nội  rồi đổ ra biển ở cửa Ba Lạt.  Chiều dài tổng cọng là 1160km ; phần chảy trên đất Việt Nam dài 556km . Sông Hồng có hai phụ lưu chánh là  sông Đà ( Rivière Noire – Black River ) và sông Lô (  kéo dài  sông Chảy-  Rivière Claire , Clear River là phụ lưu bên  phải của sông Lô). Sông Lô là nhánh bên trái sông Hồng, bắt nguồn cũng ở tỉnh Vân Nam, chảy vào Việt Nam qua hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, rồi đổ vào sông Hồng ở Việt Trì. Sông Lô chảy trong  địa phận  Việt Nam dài 275km. Ngòai ra tỉnh nhà còn có những sông nhỏ như sông Phó Đáy, sông Cà Lồ và các chi lưu tạo ra nguồn nước dồi dào, bảo đảm nước tưới cho nông nghiệp và phục vụ cho công  nghệ .

              Nguồn nước ngầm có tiềm năng lớn, trử lượng hàng triệu mét khối. Vĩnh Phúc còn có nhiều hồ, đập dự trữ nước như  Đại Lãi ( Mê Linh ) diện tích 525ha, Xạ Hương, Vân Trục  và các đập Liễn Sơn ( Lập Thạch ), Đầm Dưng (  Vĩnh Lạc), Đầm Vạc ( Vĩnh Yên ). Nguồn nước Vĩnh Phúc phân bố tương đối đồng đều, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triễn nông nghiệp, công nghệ và phục vụ đời sống dân cư trong năm. Tuy nhiên, vào mùa khô hạn vẫn thiếu nước. Vì vậy phải xây cất thêm các công trình điều tiết nước mặt, khai thác nước ngầm bổ sung cho nguồn nước mặt.  Sông Lô và sông Hồng thường bị ngập lụt đe dọa mùa mưa như đã nói trên. Ngược lại vùng núi Tam Đảo, Lập Thạch thường bị khô hạn, thiếu nước nghiêm trọng về mùa đông.

 

             Tài nguyên rừng và sinh vật

 

             Hiện nay, diện tích rừng Vĩnh Phú chỉ còn 30 236 ha, chiếm  22% tổng diện tích,  tỉ lệ bao phủ đất có phần giảm đi so thống kê năm 2000 là 25 – 30% , tuy đã có lúc đã gia tăng  lại đến 23.14% năm 2004 và  23.7 % năm 2005,  nhờ diện tích rừng nhân tạo, rừng trồng đã tăng từ 15 435 ha năm  1997  lên  đến 20641 ha năm  2003; dù đã mất thêm 1000 ha rừng tự nhiên  trong khoảng thời gian này. Nơi có nhiều  rừng trồng là Lập Thạch, Tam Đảo và Mê Linh.  Mới gần đây, các nhà thực vật học cho biết  kiểm kê sơ khởi tỉnh nhà có 130 nhóm thực vật cấp cao, 344  tông, 490 lòai; trong số này nhóm Lõa Tùng  Psilotaceae ( cỏ không rễ, không lá)  có 21 nhóm,  32 tông và 53 lòai,  hạng cây hột kín- angiosperm  có 102 nhóm,  305 tông và 426 lòai. Riêng  thực vật rừng Tam Đảo chứa 83 lòai thân gỗ, 54 lòai cây làm rau ăn,  214 lòai cây làm thuốc và  62 lòai trái cây ăn được. Trong số này có nhiều lòai gỗ giá trị kinh tế cao như  pơ mu, sam pong( ? ) lòai Fokienia hodginssii ,  họ Tùng  Cupressaceae, la hán tùng, thông tre lá ngắn Podocarpus brevifolius, kim giao Fleury  Podocarpus( Decussovarpus ) fleuryi, thông tre, kim giao trúc đào-  giả pơ mu Podocarpus neriifolius cả hai cũng họ Tùng, lát hoa lòai Brownlowia ( Chukrasia) tabularis, họ Cò ke Tiliaceae,  lim xanh lòai  Erythrophleum fordii họ phụ Điệp Caesalpinoideae, sến mật( Sến dưa , Lầu )  Madhuca ( Dasillipe ) pasquieri , họ Sa bô chê Sapotaceae…  Động vật hoang dã  trên núi Tam Đão cũng có rất nhiều lọai : 158 lòai chim  như vàng anh, sơn tiêu trắng, sơn tiêu đỏ,  gà tiền, gà lôi, họa mi, khướu, bách thanh, đa đa,  phượng hòang đất ) ;  58  lòai thú rừng, trong đó có nhiều lòai quý hiếm như báo, gấu,  vượn, nai, hoẵng, sơn dương, vọoc … . Đáng chú ý là một số lòai thuộc diện qúy hiếm thế giới như cầy mực Arictas breaboirong, sóc bay Petranrists petranrist, vượn da bò Hylobates cow color Harlow … ; 19 lòai lưỡng cư -amphibian,  46 lòai bò sát, trong số này nhiều nhất là tắc kè, kỳ nhông, rắn mối. Đáng kể thêm ở vùng Tam Đảo là loài cá tra – snake head  fish qúy hiếm, có gía trị khoa học.

 

             Tài nguyên khóang sản

 

            Nói chung Vĩnh Phúc  nghèo các lọai khóang sản. Trử lượng vài khóang sản quý hiếm như  thiếc,vàng, đồng , sắt, barít … quá nhỏ, không thuận lợi cho việc đầu tư khai thác. Vài lọai đang và  có khả năng khai thác là vật liệu xây dựng như  đá xây dựng, đá granít – thạch cương ( khỏang 50 triệu mét khối )  phân bố ở Lập Thạch, Tam Đảo, Mê Linh; nước khóang ở Mê Linh ; mica ở Lập Thạch. Khóang sản có khả năng khai thác lâu dài là cao lanh giàu nhom, có nơi trử lượng trên 4 triệu tấn, tập trung ở Tam Dương, Vĩnh Yên và Lập Thạch. Cao lanh Vĩnh Phúc thường dùng sản xuất gạch chịu lữa, đồ gốm và sành sứ và làm chất bổ sung họat kích cho  sơn, cao su,  giấy chụp hình, tiền giấy … Các mỏ cao lanh Vĩnh Phúc đã được khai thác từ năm 1965 , hàng ngàn tấn đã được tiêu dùng mỗi năm. Vĩnh Phủc còn có 6 mỏ Puzzolan,trử lượng tổng cọng là 4.2 triệu tấn. Cát- sỏi sạn đã được khai thác ở 4 nơi, trử lượng chừng  4.75 triêu tấn;  đất sét làm gạch ngói  trử lượng tương đối lớn 51,8 triệu tấn, phân bố ở Vĩnh Yên ven dải sông Lô , sông Hồng và đang khai thác ở 10 nơi.Vĩnh Phúc có  một ít than gầy- anthracit ( chừng 1000 tấn ) ở Đảo Trừ ( ? ) – Lập Thạch,  than nâu – brown coal  ở các xã Bạch Lưu, Đồng Thịnh ( Lập Thạch ) ( chừng vài ngàn tấn ), nhất là than bùn -peat trử lượng 693 600 tấn ở mức P2  đã được khai thác làm phân bón hửu cơ và nhiên liệu.  Tiềm năng  khóang sản mới Vĩnh Phúc là Fenspat- feldspar. Fenpat  là một khóang sản hóa học a ( b+8) ; a gồm các  nguyên  tố K, Na, Ba và b  gồm Si, Al. Fenspat cũng chứa một ít  sắt, lithium, ruby …  Fenspat  có màu lạt hay đậm, nhẹ như gương,  độ cứng 2.6 – 3.4 và dễ vỡ. Fenspat xuất hiện ở nhiều lọai đá đặc biệt là magma và các đá  thóai hóa.  Fenspat ka li- natri  rất có giá trị ở kỷ thuật chế tạo đồ gốm – ceramics, đồ sứ -porcelain.  Ở chế tạo đồ sứ,  fenspat chiếm 30% thành phần  men- glaze , 33 -46 %  thành phần men gạch nung – terracotta . Ở thành phần gương các nguyên tố chánh là SiO2,  Al2O3, Na2O, CaO và MgO.  Hai nguyên tố cần nhiều nhất chế tạo gương là số lượng K2O và Na2O. Ở ngành sản xuất men đục – opaque glaze  ( khác hẳn men trong  tráng đồ   sứ ), men đục  sử dụng bao phủ  gang – cast iron   hay sắt.  Ở men đục, fenspat tăng bề dày và  mức bền bĩ hóa học. Với đồ sắt, thành phần fenspat ở men đục là 20-30% . Ở kỷ thuật mài sắc – vót nhọn , dùng fenspat làm  chất liệu dính, khi mài các tấm láng bóng. Thành phần  fenspat ở mạng lưới  nối kết bột mài – đá nhám  là 29- 45%.  Ngòai ra fenspat con dùng ở kỷ thuật chế tạo xà phòng, răng giả,  ngói, bê tông, gạch ….

 Vĩnh Phúc có một  tầng đá thời kỳ Proterozoi, kéo dài từ Lập Thạch đến Vĩnh Yên và Phúc Yên. Ở tầng này, có các đá magma tỉ như granit  ởi núi Sang , núi Bầu , núi Ngang  và Đỉnh Trung. Bao quanh các đá magma này  họat động của pegmatit  tạo ra các mỏ fenspat  có gía trị công nghệ. Tuy nhiên,vì phẩm giá fenspat thay đổi nhiều ở các mỏ, muốn tránh thất bại khai thác,  phải khảo cứu  minh bạch trước, phẩm chất và phân phối các lọai fenspat Vĩnh Phúc.

 

              Danh nhân suôi dòng lịch sử tỉnh Vĩnh Phúc

             

          Thời đại các vua Hùng

         

          Có lẽ  nên gọi là vua hơn là vương một danh hiệu Trung Quốc đưa vào  tiếng nước ta  và sách vở ta rất muộn.  Gọi là vua Hùng gần sự thậthơn , măc dầu từ Hùng như nhiều ngưòi đã nghĩ , hầu cũng chỉ là một từ ghi âm tiếng Việt  cỗ .

                                        Hùng vương đô ở  châu phong,  

                                 Ấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao Giang.

                                         Đặt tên là nước Văn Lang.

                                  Chia 15 bộ, bản chương cũng liền.

                                         Phong châu, Phúc lộc, Chu diên,

                                  Nhìn trong địa chí  về miền Sơn Tây….                                                  

                                     …Trước sau đều gọi Hùng Vương ,

                                   Vua thường nối  hiệu, quan thường nối tên .       

                                           Lạc hầu là tướng điều nghiên

                                    Vũ là Lạc tướng giữ quyền quân cơ.

                                           Đặt quan Bố  chính hửu tư,

                                     Chức danh một bực, đằng uy một lòai…

                                            

               Tuy Phong châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ, nhưng các vua Hùng cai quản cả hai lưu vực sông Hồng và sông Mã , … xuống tận Cửu Đức -Hà Tĩnh,  cho nên  nước Văn Lang các vua Hùng bao gồm cả tĩnh  Vĩnh Phúc. Theo GS Nguyễn Đăng Thục( Dòng Việt số 15 – 2005 ),  Lạc Việt là một dòng của nhóm Bách Việt đóng đô ở Cối  Kê (  Cối Kê  cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh, tiếng Việt là  Cối Kê sự cũ anh nên nhớ : Hoa Diễn hãy còn muôn vạn quân – Trần Nhân Tông, trị vì 1279- 1293) do vua Câu Tiễn lảnh đạo. Năm 333 trước Công Nguyên ( CN ) , nước Việt ở Triết Giang bị quân Sở diệt, lìa tan xuống Giang Nam rải rác  theo miền  bờ biển  và lục địa  như Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây , Lĩnh Nam ; hợp với các  thổ dân địa phương thành lập  các bộ lạc hay quốc gia nhỏ.  Các bộ lạc linh tinh – Bách Việt sau một thời gian,  chỉ còn 5 nhóm Việt tộc  có hình thức quốc gia là Đông Việt ở Ôn Châu , Mân Việt ở  Phúc Châu, Nam Việt ở Quảng Châu, Tây Âu và Lạc Việt ở phía Nam Quảng Tây  và bắc phần Đông Dương ngày nay. Theo sử gia Pháp Cl. Madrolle , họ Lạc  trong nhóm Mân Việt  do đường biển  di đến duyên hải phương Nam, vào Hải Nam và trung châu  sông Nhị ( sông Hồng ) và sông Mã  phía Bắc Việt Nam ngày nay. Thần thọai Sơn Tinh -Thủy Tinh  làm liên tưởng  đến  cuộc tranh bá  giữa dân bản xứ  miền bể « Hải Hậu »  di thực đến  dựng ra  nước Việt đầu tiên là Âu Lạc hay Lạc Hùng, đóng đô  ở dưới chân núi Tản Viên ( núi Ba Vì , cao  1287m ), Tổ Sơn của Việt Nam. Ở đây Lạc Việt đã tổ chức thành quốc gia  phong kiến đơn sơ; các bộ lạc ở dưới quyền  các tù trưởng Lạc tướng, Lạc hầu;  khai khẩn các ruộng gọi là « hùng điền » tại trung châu sông Hồng vào thế kỷ thứ VI trước CN. Đời nhà Châu ( Chu ) năm  thứ 5, Tần Thân Định Vương ( ? )  ( 307- 209 trước CN ) đánh lấy nước Thục, thống nhất các chư hầu  tiểu quốc nhà Châu,  tiêu diệt các nước Việt miền Nam sông Dương Tử, diệt nước Thục ở Tứ Xuyên vào năm 316 trước CN .  Dòng dõi vua Thục là Thục Phán, đem tập đòan chống cự quân Tần chạy xuống Văn Lang  của Lạc vương, hạ vua Lạc xuống làm tù trưởng, giữ đất Mê Linh  tỉnh Vĩnh Phú ngày nay làm thái ấp. Lại thần phục được cả các bộ lạc Tây Âu phía Nam  Quảng Tây, lập ra nước Âu Lạc, đóng đô  xây thành trôn ốc tại Cổ Loa, xưng hiệu là An Dương Vương  và đặt tên nước là Thục để nhớ lại đất  Ba thục – Tứ Xuyên đã mất với Tần .          

            Thời đại các vua Hùng, tổ tiên chúng ta đã  xây dựng được một nền văn minh cao, trước khi  văn hóa Hán  và người Hán xâm nhập. Theo các chứng tích khảo cổ học định niên đại bằng carbon phóng xạ, khởi đầu thời đại này  cách nay  hơn 4 000 năm. Cư dân thời đó  sống chủ yếu bằng ngành trồng lúa nước( ? ). Giống lúa hột tròn, có thể là nếp, chiếm ưu thế. Đã  tìm được nhiều cái chõ đồ  xôi bằng gốm ở thời kỳ này khá độc đáo, phần nồi đựng nếp gắn liền với phần  nồi đáy đựng nước. Ngòai lúa còn  trồng  nhiều lọai rau, củ và cây ăn trái. Ban đầu, con người làm ruộng bằng những chiếc cuốc đá. Đến giai đọan văn minh  Đông Sơn – Sông Hồng đã xuất hiện nghề nông dùng cày.  Lưỡi cày đúc bằng đồng, trâu bò được dùng làm sức kéo. Lúa được gặt bằng dao đá  hay đồng. Chăn nuôi gắn bó với trồng trọt, không tách thành một ngành kinh tế độc lập. Cư dân thời các vua Hùng đã biết nuôi chó, gà, heo, trâu, bò, voi.  Chưa tìm thấy dấu vết của ngựa. Thời các vua Hùng đã bắt đầu có phân tầng xã hội. Đã có  những đầy tớ, nô lệ, phục vụ cho những ông chủ. Người giàu cần có quyền lực để khống chế người nghèo. Thế là Nhà nước đã ra đời. Nhưng Nhà nước cũng còn phải điều khiển những công việc chung cho cả cộng đồng như tưới ruộng, đánh giặc v.v… Và nó cũng có tác dụng làm xóa nhòa  ranh giới hạn hẹp của các bộ lạc.  Thế thống nhất văn hóa chánh trị trong thời đại các vua Hùng đã tạo ra sức mạnh to lớn cho dân tộc Việt, để có thể trường tồn qua những thách thức ghê gớm dưới ách thống trị  nghìn năm  của người Hán sau đó.

 

            Hai bà Trưng( 14- 43 )

 

         Phỏng theo giáo sư sử học Lê văn Lan ( 1989 ), Hai Bà Trưng là tên gọi tắt suy tôn hai nữ anh hùng đầu tiên của  Việt Nam. Đó là hai chị em Trung Trắc, Trưng Nhị. Trưng không phải là họ mà là biến âm  của một từ  tiếng Việt cổ , tương tự từ ruông tiếng Khmer, hay kurung ở lịch sử Phù Nam, đều có nghĩa là vua. Trưng Trắc là Vua Nhất, Trưng Nhị là Vua Nhì.   Đó cũng là tiếng xưng tụng  hai vị nữ anh hùng, khi họ trở thành thủ lảnh cuộc khởi nghĩa lớn vào lọai sớm nhất  lịch sử dân tộc ta  cũng như lịch sử nhân lọai, chống xâm lược, nô dịch và trở thành những nữ hòang đầu tiên, cai quản quốc gia dân tộc, sau khi đất nước được giải phóng, hồi đầu thế kỷ thứ I .

           Sử cũ đều chép hai bà  dòng dõi Lạc tướng đất Mê Linh ( miền đất rộng giữa Ba Vì và Tam Đảo )  thời vua Hùng. Truyền thuyết nói hai bà là con gái Man Thiện, cũng là một phụ nữ đảm lược, quê hương ở vùng Ba Vì. Ngọc phả các làng Hạ Lôi và Hát Môn, những nơi có  đền thờ chánh của hai bà, đều chép hai bà là chị em sinh đôi và sinh vào ngày mồng một tháng tám  năm 14 sau CN.  Các sử cũ cũng  đều chép rằng  Trưng Trắc có chồng là Thi Sách, dòng dõi Lạc tướng Chu Diên ( miền đất  dọc sông Đáy ). Đây là một cuộc « hôn nhân chánh trị » , liên kết thế lực hai miền đất quan trọng non sông thời bấy giờ.

          Lực lượng liên kết này là  hạt nhân cho một cuộc khởi nghĩa đồng lọat, rộng lớn, nổ ra vào mùa xuân năm 40 sau CN , nhân việc Thái thú ( quan cai trị nhà Hán ) ở Giao Chỉ là Tô Định   giết hại Thi Sách.  Nhưng nguyên nhân căn bản cuộc khởi nghĩa  là vì sự nghiệp và tinh thần yêu nước, yêu nòi, giải phóng dân tộc  chống áp bức, thống trị và nô dịch, đồng hóa .

          «  Trưng Trắc  là người can đảm , hùng dũng » ( theo lời thừa nhận  của chính sử  lọai cổ nhất Trung Quốc  ghi chép về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng)  đã  cùng em gái đứng đầu cuộc khởi nghĩa ấy, liên kết được sức mạnh tòan dân- trong đó có đông đảo  phụ nữ hóa thân vào truyền thuyết thành các nữ tướng : Thánh Thiên, Lê Chân , Bát Nàn , Thiều Hoa …-  và tòan quốc, không phải chỉ gồm  Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam  mà còn từ Nam Trung Bộ trở ra, luôn cả đất Hợp Phố bây giờ là Nam Quảng Đông – Trung Quốc nữa. Chỉ  trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã quét sạch  giặc thù khỏi bờ cõi và được tôn làm vua, đứng đầu đất nước độc lập trong 3 năm.

               Sau đó nhà Hán sai lảo danh tướng Mã Viện cầm đầu đại quân  sang tái xâm lược.  Hai Bà đã dũng cảm đương đầu  cùng quân giặc, tổ chức kháng chiến, đánh những trận lớn từ Tây Vu, Lãng Bạc đến Cấm Khê ( Hà Bắc , Hà Nội , Hà Sơn Bình )  và cuối cùng  hy sinh anh dũng , nhảy xuống sông Hát trầm mình, vào mùa hè  năm  43 sau CN.  

 

          Việt Vương Triệu Quang  Phục ( ? – 571 )   

 

         Theo  hai nhà sử học Nguyễn Quang Ân và Giang Hà Vị ( 1989 ),Triệu Quang Phục là người kế tục sự nghiệp của Lý Nam Đế là Lý Bí  hay Lý Bôn  khởi nghĩa năm 542 sau CN, người đã  thắng một trận chiến lớn  đánh tan tành  quân tướng nhà Lương ở Hợp Phố, phía Bắc châu Giao, tuyên  bố  dựng nước quốc hiệu là Vạn Xuân. Đầu năm 545, nhà Lương đem quân  xâm lược nước Vạn Xuân non trẻ, nhằm chinh phục lại Châu Giao. Sau những trận đánh lớn ở  thành cửa sông Tô Lịch, thành Gia Ninh ( ngã ba sông Trung Hà , Việt Trì), hồ Biển Triệt ( Lập Thạch , Vĩnh Phúc ) cuộc kháng chiến  của Lý Nam Đế thất bại , ông rút lui về động  Khuất Lão ( Tam Nông , Vĩnh Phú ).  Ở đây ông bị đau yếu luôn, nên giao quyền lại cho Triệu Quang Phục. Triệu Quang Phục là con của Triệu Túc, một danh tướng  nước Vạn Xuân  được  phong làm Thái phó trông coi việc binh, hy sinh  trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Lương ở  vùng ven biển.  

       Vốn  thông thuộc  vùng sông nước Chu Diên, Triệu Quang Phục quyết định chuyễn hướng chiến lược, thay đổi phương thức tác chiến cũ là phòng ngự, cố thủ hay tập trung lực lượng  quyết chiến với địch. Ông đưa hơn một vạn quân từ miền núi về đồng bằng, lập căn cứ ở Dạ Trạch  ( Khóai Châu , Hải Hưng ). Đây là một vùng đầm lầy ven sông Hồng, lau sậy um tùm. Giữa đầm có bải phù sa rộng mênh mông, có thể làm ăn sinh sống. Đường vào bãi rất khó  khăn, phải dùng thuyền độc mộc mới vào được. Triệu Quang Phục đóng quân ở bãi đất nổi ấy. Ban ngày quân lính vừa luyện tập vừa tự túc luơng ăn. Đêm đến ra đánh phá  các trại địch.  Sử  cũ nói cách của Triệu Quang Phục  là «  kế trì cửu »  (  đánh lâu dài, đánh tiêu hao, đánh kỳ tập làm phương thức chủ yếu)  Kế sách dụng binh hết sức mưu  lược và sáng suốt đó của ông, đã đưa cuộc kháng chiến chuyễn bại thành thắng. Vài người  quân sự cho rằng Võ Nguyên Giáp đã mô phỏng nhiều chiến lược này của Triệu Quang Phục.

       Sau khi  Lý Nam Đế mất ( 13-4- 548 ), ông xưng là  Triệu Việt Vương. Dân gian gọi ông là Dạ Trạch Vương. Đầu năm 550, nhân nhà Lương có lọan to bên Tàu, Triệu Việt Vương từ căn cứ Dạ Trạch, mở cuộc tấn công lớn, giết tướng giặc là Dương Sàn, thu thành Long Biên, khôi phục lại quyền độc lập nước nhà.  Về sau, vì tin lời cầu hòa của Lý Phật Tử ( vốn là tướng của Lý Nam Đế, từng nổi dậy chống ông ) ông chia cho y một  phần đất và kết mối thông gia: con trai  Lý Phật Tử là Lý Nhã Lang, lấy con gái Triệu Việt Vương là Triệu Cảo Nương. Năm  571, Lý Phật Tử  phản bội đem quân đánh úp. Việt Vương thua, chạy về  cửa bể Đại Nha ( làng Độc Bộ huyện Nghĩa Hưng, Hà Nam Ninh ), cùng đường,  gieo mình xuống bể.

 

        Phần II lạm bàn phát triễn tỉnh Vĩnh Phúc sẽ tiếp theo: chỉ số  cạnh tranh phát triễn các tỉnh Việt Nam, danh lam thắng cảnh di tích lịch sử … làm căn bản cho  du lịch, công nghệ và tiểu công nghệ, nông lâm ngư, giao thông, giáo dục, y tế, đô thị hóa        

                                    ( Irvine , Nam Ca Li ngày  25 tháng 7 năm 2012 )

 

 

  

.

 

 


 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 239993 visitors (888336 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=