thnlscantho-3
  Phát triển Quãng Ngãi-P2
 
24/03/2012

Cố gắng biết rỏ hơn một tỉnh miền Trung “ hay co” :

Công nghệ, Dịch Vụ tỉnh Quảng Ngãi có tiến như Đồng Nai – Biên Hòa,

Bà Rịa- Vũng Tàu không ?

G S Tôn thất Trình

 

 

 

Phần II : Lạm bàn Phát triễn tỉnh Quảng Ngãi

 

         Nếu năm 1999, thu nhập bình quân mỗi đầu người cho cả nước, chỉ mới đến 3 640 000 đồng VN, trung bình bình quân cho 6 tỉnh ( kể luôn TP Đà Nẳng) Duyên Hải Nam Trung Bộ ( lúc đó Quảng Ngãi là tỉnh nghèo nhất ) còn thấp hơn, chỉ có 3 036 000 đồng VN. Năm 2007, GDP  mỗi đầu người dân Quảng Ngãi cũng chỉ lên đến 7 820 000 đồng VN, vì mọi lảnh vực công nghệ xây cất, dịch vụ và nông lâm ngư nghiệp đều yếu kém. Nhưng từ đó kinh tế Quảng Ngãi phồn thịnh hẳn lên, nhờ GDP công nghệ tỉnh nhà tăng trưởng ngọan mục ở khu Kinh tế Dung Quất, đặc biệt nhờ quyết định thiết lập nhà máy lọc dầu Dung Quất năm 1998 của Chánh Phủ, và sự cương quyết thực hiện dự án đơn phương đầu năm 2003 của PetroVietnam, sau khi mọi công ty ngoại quốc liên hệ đều rút lui, viện cớ  tính  cách “phi kinh tế” của dự án này. Hai năm sau, năm 2009, GDP mỗi đầu người Quảng Ngãi  tăng gần gấp đôi 15.2 triệu đồng VN, đã cao hơn hai tỉnh lân cận là Quảng Nam và Bình Định. Đuổi gần kịp GDP mỗi đầu người Bà Rịa-Vũng Tàu năm đó. Quảng Ngãi dự tính mức tăng trưởng kinh tế là 12- 13 %  trong thời gian 2016- 2020 và GDP mỗi đầu người Quảng Ngãi  sẽ là 2000- 2200 đô la Mỹ; hy vọng năm 2020 sẽ đạt 4300 -4500 đô la Mỹ, vượt Bà Rịa- Vũng Tàu, đuổi kịp Đồng Nai – Biên Hòa.( ?)

      

       Phát triễn đột khởi Khu kinh tế Dung Quất, tuy có phần chậm lại hai năm qua

 

       Từ năm 2003, Việt Nam đã thiết lập 15 khu kinh tế - economic zones ( EZ ) phát triễn Bờ Biễn miền Trung.  Diện tích ở đất liền và biển Đông các khu kinh tế này chiếm 662 000 ha, bao phủ  2 % tổng diện tích nước nhà, nhưng tính đến cuối năm 2011, trung bình phần diện tích  họat động chỉ đạt 40%. Tuy diện tích 15 khu EZ này 10 lần lớn hơn các  khu ( công viên ) công nghệ -Industrial Park ( IP ) cả nước, phần đóng góp vào ngân sách quốc gia  lại ít hơn nhiều.  Chánh phủ Việt Nam dự liệu làm thêm 3 EZ nữa đến năm 2020 cho bờ Biển miền Trung, nâng tổng số lên 18 EZ. Ngòai lý do chưa giải quyết xong việc đền bù đất đai, chưa huấn nghệ đầy đủ nhân công, chuyên môn thích nghi, quốc gia  giới hạn tài trợ, nhất là sửa sọan cẩu thả, tỉ như EZ Vũng Áng hiện vẫn còn thiếu nưóc ngọt, EZ Văn Phong thiếu các công nghệ hổ trợ…, đáng lý chỉ nên tập trung  làm 3- 4 EZ thay vì 15 EZ, trên căn bản yêu cầu và lợi ích thật sự ( Vũ Đại Thắng, Cục Trưởng Cục EZ,  bộ Kế Họach và Đầu Tư, tháng 9 năm 2011 ). Các EZ bờ biển khắp nước  đã thu hút đến năm 2011, 130 dự án đầu tư ngọai quốc trị giá 25 tỉ đô la và 65 dự án địa phương trị giá tương đương, theo bộ Kế Họach và Đầu Tư.  EZ Chu Lai là EZ Bờ Biển đầu tiên  ở miền Trung, năm 2011, đã có 66 dự án, tư bản đăng ký trị giá 1.7 tỉ đô la. Nhưng chỉ mới có  45 dự án  tư bản đầu tư 600 triệu đô la thực sự hoạt động, phần lớn là các công ty địa phương. Theo qui họach  của chánh phủ, cho các EZ Bờ biển, xây dựng EZ phải song song  cùng lúc với phát triễn cảng biển, các khu đô thị, các sở dịch vụ    các tài nguyên nhân sự . Thế nhưng các công việc này không xảy ra ở EZ Chu Lai ( Trần Bá Dương  - 2011 ).

      Từ năm 2000 đến năm 2007, GDP công nghệ tỉnh Quảng Ngãi  tăng trung bình mỗi năm  18.64 %.  Đây là mức tăng trưởng cao nhất Duyên Hải miền Trung, chỉ sau Bình Thuận ( nay Bình Thuận thuộc miền Đông Nam Bộ ). Mức tăng trưởng công nghệ  lại  mau lẹ hơn nữa  nhờ EZ Dung Quất, đặc biệt nhờ nhà máy lọc dầu Dung Quất bắt đầu họat động  tháng 2 năm 2009. Năm 2009, sản lượng công nghệ tỉnh nhà tăng thêm 144.7 %  và GDP công nghể tỉnh thăng tiến nhảy vọt  từ 36.2% năm 2008 đến  46.3%  năm 2009 ,  cao hơn hẳn mọi tỉnh  miền Trung, có phần cao hơn cả thành phố Đà Nẳng! Năm 2015, tỉnh nhà dự tính công nghệ và dịch vụ sẽ chiếm 85-90% GDP  và trên 90 % năm 2020. Nông Lâm Ngư nghiệp Quảng Ngãi sẽ  rớt xuống dưới 10 % năm 2020.

       

        Khó khăn, thăng trầm quyết định và thực hiện nhà máy lọc dầu Dung Quất .

          

    Chiếu theo Wikipedia, câu chuyện nhà máy lọc dầu Dung Quất bắt đầu trong thập niên 1980. Nhà máy lọc đầu thứ nhất của Việt Nam được dự tính xây dựng gần cảng Vũng Tàu , chỉ cách  các mỏ dầu ngòai Việt Nam chừng 100 km ( 60 dặm Anh). Năm 1988 khởi sự  xây cất tại một vị trí đã  được làm sạch vỏ khí đạn dược không nổ, sót lại thời chiến tranh. Tuy nhiên năm 1990, dự án lọc dầu bị cho vào lại ngăn tủ. Đầu thập niên 1990, công ty Pháp Total SA  tỏ ý muốn làm dự án này. Cùng lúc, chánh phủ Việt Nam gợi ý chuyễn vị trí nhà máy đến Vịnh Văn Phong, phía Bắc Nha Trang  và sau đó xa hơn nữa ở phía Bắc, tại Dung Quất. Lý do chánh phủ Việt Nam muốn làm ở Dung Quất nêu ra là để đem công ăn việc làm và phát triễn cho  các vùng miền Trung  nghèo đói nhất nước.  Đìều này có nghĩa là nhà máy lọc dầu sẽ cách mỏ dầu Bạch Hổ, ngòai khơi bờ biển miền Nam 1000 km, tăng thêm phí tổn chuyên chở đầu thô và các sản phẩm lọc dầu và có thể phải xây thêm một ống dẫn dầu. Dung Quất cũng xa hai vùng trung tâm kinh tế nước nhà là Sài Gòn – TP HCM  và Hà Nội.  Năm 1995, Total SA rút lui, tuyên bố rằng vị trí mới ở Dung Quất là vô nghĩa trên phương diện kinh tế. Một quần hợp – consortium các công ty ngọai quốc gồm LG Group, Petronas, Conoco, Stone  and Webster và  PRC – Chinese Petroleum Company  and China Development thay thế và cũng rút lui sau đó hai năm cũng trên lý do kinh tế. Thế nhưng giá dầu thô đạt cao đỉnh năm 2008 đã giúp dự án cũng có nghĩa lý kinh tế nữa.  Năm 1998, thủ tướng Phan Văn Khải tiến bước mau lẹ gia tốc xây dựng nhà máy Dung Quất. Dự án nhen lữa lại là một liên doanh giữa Vietsovpetro ( liên doanh  Việt Nam –Nga Sô  có trách nhiệm xuất khẩu phần lớn dầu thô Việt Nam) và Hiệp Hội Kinh tế Hải Ngoại Nga- Zarubeznheft. Liên Doanh này cũng  bị Nga giải tán tháng 12 năm 2002,  cũng trên lý do là nhà máy Dung Quất không vững bền được trên phương diện kinh tế. Tháng 2 năm 2003, Việt Nam quyết định tự mình thực hiện dự án và tiếp tục xây cất Dung Quất. Giai đoạn I đã họat động  tháng hai năm 2009 như đã nói trên.

        Đấu thầu và xây cất

      Phí tổn ước lượng  năm 2003 là 3 tỉ đô la Mỹ cho xây cất và thiết bị. Nhà thầu nguyên thủy kỷ thuật công nghệ ngọai vi và họa kiểu – original  front-end  engineering and design contractor( FEED )  cho dự  án là công ty  Foster Wheeler Energy của Anh Quốc-UK  ( thay thế bằng thỏa hiệp FEED ký với Technip Pháp năm 2004) . Nhà máy lọc dầu xây cất trên một vị trí của Vùng Phát triễn Kinh tế - Economic zone Dung Quất, bao gồm  338 ha đất và 573 ha  biển. Việt Nam đã chấp thuận các khế ước cho một nhóm xây cất gồm có  Technip – Coflexip của Pháp, JGC Corp của Nhật và  Technicas  Reunidas  của Tây Ban Nha  về phần cung cấp  kỷ thuật và thiết bị. Công ty Stone and Webster  cung cấp dịch vụ cố vấn  xử ( quản ) lý dự án, theo khế ước ký kết tháng 10 năm 2003. Một hảng của Quần hợp  Phức Tạp TPC Complex, gồm Technip, Technip GeoProduction ( mã lai Á )và Technicas Reunidas, được chấp nhận cung cấp kỷ thuật công nghệ, thiết bị và xây cất, theo các khế ước trao chìa khóa mở máy – turnkey ( nghĩa là đã hòan tất ) contracts  số 1 và số 4 tháng 5 năm 2005.  Tháng 6 năm 2006, nhà máy lọc dầu Dung Quất  lựa chọn Doanh Nghiệp SmartPlant  làm phần mềm tiêu chuẩn – standard software  cho việc  xử lý họa kiểu, duy trì tu bổ và họat động nhà máy. Ngòai các công ty  vừa kể trên,  còn có thêm sự đóng góp của hơn 40 công ty Việt Nam và các nhà thầu phụ ngọai quốc như Van Oord( Hòa Lan ), Toyo ( Nhật ), Tổ hợp Dịch vụ kỷ thuật Dầu lữa Việt Nam-PTSC, Liên Doanh Tổ Hợp  xây cất Xăng Việt Nam –PVC, Tổ hợp kỷ thuật xây cất Công Chánh số 1 – CIENCO1, Tổ hợp Bốc Dở Máy Móc Việt Nam- LILAMA, Tổ hợp Xây Dựng Máy Móc Việt Nam – COMA, Tổ Hợp Xây Dựng và Xuất Nhập Cảng –VINACONEX, Tổ hợp Sông Hồng v.v…

       Xây cất nhà máy khởi công  ngày 28 tháng 11 năm 2005  và giai đọan I hòan tất ngày 22 tháng 2 năm 2009. Tổng phí nhà máy lọc dầu Dung Quất lên đến 3 tỉ đô la Mỹ, cao hơn tái ước lượng trước đây là 2.5 tỉ và ước lượng nguyên thủy là 1.4 tỉ năm 1994. Có thể còn cần thêm 1 tỉ đô la nữa để xây cất một đơn vị làm sạch sulfua ( lưu hùynh )- desulphurising unit  năm 2013.                         

       Phức tạp vùng nhà máy lọc dầu gồm những thành phần sau đây:

  • Các cơ sở  chế biến lọc dầu, tiện nghi và ngọai vi ( 110 ha )
  • Nông trang các bồn dầu thô và vùng hơi khí cháy lữa thóat ra ( 42 ha )
  • Nông trang bồn sản phẩm chế lọc ( 36 ha )
  • Đầu vào nước biển, ống thóat nước thải chế biến và dầu thô( 4ha )
  • Những nơi đường ống nối nhau và đường xá vào nhà máy (40 ha )
  • Vùng cảng xuất khẩu sản phẩm lọc dầu ( 135 ha )

Dung tích Dung Quất được họa kiểu  để lọc 6.5 triệu tấn đầu thô mỗi năm hay 140 000 thùng dầu mỗi ngày. Dung tích  sẽ nới rộng đến 10  triệu tấn vào các năm 2013- 2014 ( hòan tất năm 2016 ? ). Phí tổn nới rộng dự tính là 1 tỉ đô la Mỹ (  770 triệu Euro). Sản phẩm lọc dầu Dung Quất là 300 000 tấn  LPG ( Liquefied  Gas ),1.9 triệu tấn xăng đủ lọai xăng  không chì – unleaded , 3- 5000 tấn nhiên liệu không khí- air fuel A90 một ngày, 2700 tấn A90 và A95 một ngày,  400 000 tấn kerosene và nhiên liệu cho phản lực( 650-1250 tấn/ngày ),3 triệu tấn/ năm diesel, 300 000 tấn/ năm mazout-  fuel oillưu hùynh- sulfur.  Thêm vào đó nhà máy lọc dầu cũng sẽ  sản xuất vài sản phẩm hóa học dầu lữa.  Cuối tháng 8 năm 2008, chi nhánh Hóa chất dầu lữa- Bình Sơn   Petrochemical  Refinery đã bắt đầu thương mãi hóa, bán ra sản phẩm hạ dòng nguyên liệu polypropylene-  260 000 tấn cho nhà máy dung tích là 150 000 tấn propylene- PP một năm. Nhà máy propylene, trang bị máy móc cao kỷ và cận đại  vớii kỷ thuật Hypol II,  hảng Mitsui Nhật Bổn cung cấp sẽ hòan tất và họat động năm 2010 ( ? ). PP là vật liệu cần thiết cho công nghệ nội địa plastic và sản xuất xe hơi.          

 

        Tài trợ dự án

     Quốc hội chấp thuận xây cất nhà máy lọc dầu số 1 ( Dung Quất ) năm 1997; tổng số đầu tư là 1.3 tỉ đô la Mỹ ( tuy nhiên sau đó gia tăng đến 2. 5 tỉ  ), từ lợi lộc thu  được  trong việc khai thác dầu thô, tín dụng và tiền bán cổ phần công phiếu. Ngân Hàng Ngọai Thương Việt Nam- Vietcombank  đã xoay sở vay được 250 triệu đô la. Quần hợp các nhà thầu, đấu thầu Gói – Package số 1  cũng thu xếp vay được 500 triệu đô la với điệu kiện hoãn trả tiền vay.

      PetroVietnam là chủ nhân và chạy nhà máy lọc dầu. PetroVietnam cũng đã  thương thảo  với các công ty dầu lữa ngọai quốc, gồm  cả Royal Dutch Shell, nhóm Esso và SK Energy, để  nâng cấp và bán một phần nhà máy lọc dầu. Ngày 16 tháng 8  năm 2009, các họat động nhà máy đã phải ngưng lại, để “sửa chửa kỷ thuật –technical repair” đơn vị cracking xúc tác  chất lỏng cặn – residue fluid catalytic cracking unit  và đến  ngày 9- 10 tháng 9 năm 2009 thì đã sửa xong.

 

Xuất khẩu và nguồn cung cấp dầu thô

 Việt Nam xuất khẩu dầu thô nhiều nhất cho Trung Quốc, Singapore, Nhật Bổn, Anh Quốc và Hoa Kỳ. Năm 2008, mức sản xuất dầu thô của Việt Nam giảm  đi mất 5.7 % , xuống chỉ còn 305 000 thùng một ngày. Nhưng sau đó đã  tăng lên lại. Bộ Kế Họach và Đầu Tư đề nghị lên Chánh phủ  Việt Nam giảm bớt xuất khẩu dầu thô giữa  năm 2006 đến năm 2010, để bảo đảm đủ dầu thô cung cấp cho các công nghệ trong nước. Chiếu theo đề nghị này, Việt Nam sẽ giảm xuất khẩu xuống chỉ còn 15.6 triệu tấn năm 2010, để giảm bớt tùy thuộc  vào nhập khẩu các xăng nhớt. Việt Nam đang cố gắng hòan tòan tự túc về dầu và khí dầu càng sớm càng hay. ( nếu Trung Quốc không cản trở  khảo sát  tìm kiếm thêm dầu lữa và khí dầu ở Vịnh Bắc Bộ, Hòang Sa và Trường Sa Trung Quốc xâm chiếm ! ) 

    Dung Quất lọc dầu của giếng mỏ Bạch Hổ. Giếng này dự trù sẽ  cạn kiệt dầu thô  trước năm 2020. PetroViệt Nam đã có thỏa thuận sơ khởi với BP để cung cấp nguyên liệu phẩm chất tương tự  cho đến năm 2011( ? ).

 

        Khả năng cảng Dung Quất

      Hiện còn nhiều vấn đề quan trọng  cho cảng nước sâu Dung Quất, vì cảng chưa  đủ lớn  hay trang bị tốt đẹp hầu  dễ dàng việc chuyên chở và bốc dỡ hàng các thiết bị nặng cần thiết xây dựng nhà máy lọc dầu. Đường xá từ cảng đến vị trí nhà máy cũng rất yếu kém. Tổ hợp Các đường chuyên chở Tàu thủy  Quốc Gia Việt Nam – Vinalines và hảng Liên doanh vận tải – Gemadept đã được phép Bộ Giao thông đầu tư xây cất 2 bến tàu mới ở cảng Dung Quất để giải quyết vấn đề. Công ty Công Ty Công nghệ Bốc Dở Hàng Bất Thường- Abnormal Loading Engineering( ABL ), một công ty  chuyên chở nặng và bốc dở hàng hóa nổi tiếng quốc tế căn cứ tại Anh Quốc,  đã đến cảng và vị trí nhà máy làm một lọat nghiên cứu, xem thử  kỷ thuật chuyên môn hảng  có giúp ích gì cho  Dung Quất chuyễn vận  thiết bị nặng không ? ABL nêu lên một số vấn đề, Dung Quất phải giải quyết, ABL mới chịu họat động cho dự án. Cảng là khẩn thiết vì đây là  nơi dầu thô được chở đến nhà máy lọc dầu ( khi không có ống dẫn dầu vững bền từ các mỏ đến ) và cũng là nơi chuyên chở các sản phẩm lọc dầu đến thị trường.

 

       Những dự án nhà máy lọc dầu tương lai      

 Việt Nam đã qui họach xây cất thêm 2 nhà máy lọc dầu khác tương đương Dung Quất . Nhà máy thứ hai  được  dự tính ở Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách các mỏ dầu 1200km, nghĩa là cũng có vấn đề chuyên chở hậu cần – logistical transport  cung cấp nguyên liệu và các sản phẩm đã lọc. PetroVietNam, Kuwait và các chung sức Nhật đã ký kết một thỏa thuận tháng 3 năm 2007 về nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và xây cất dự án đã khởi công năm  2010. Nhà máy Nghi Sơn sẽ họat động năm 2013, dung lượng lọc dầu mỗi năm 10 triệu tấn. Tháng 2 năm 2010, Foster Wheeler thắng khế ước đấu thầu  cung cấp các dịch vụ kỷ thuật và thương mãi cho nhà máy Nghi Sơn. Nhà máy lọc dầu dự tính thứ 3 ở miền Nam là Long Sơn, Vũng Tàu, gần các mỏ dầu hơn và cơ hội  bền vững kinh tế cũng tốt hơn. Dự tính nhà máy Long Sơn sẽ bắt đầu họat động năm 2015.

          

Ảnh hưởng trên công nghệ Quảng Ngãi năm   2009, sau khi nhà máy Dung Quất họat động   

  Như đã nói trên, năm 2009, tỉ xuất công nghệ tăng 144.7 % so với 2008 và tỉ lệ công nghệ tỉnh nhà đã chiếm  46, 3 % GDP tỉnh nhà, tăng từ 36.2% năm 2008. Nhà máy Dung Quất huyện Bình Sơn Quảng Ngãi dự tính năm 2011 sẽ có lợi tức 77 000 tỉ đồng VN, lời 550 tỉ đồng, góp cho ngân sách Quốc gia 15 ngàn tỉ đồng. Tuy nhiên ảnh hưởng của nhà máy lọc dầu Dung Quất trên đời sống, lợi tức dân chúng tỉnh Quảng Ngãi không lớn cho lắm.  Đời sống nông thôn Quảng Ngãi không mấy thay đổi kể từ 15 năm qua.  Điều này có nghĩa là  nhà máy lọc dầu không gia tốc đô thị hóa- urbanization vùng.  Cư dân địa phương đã chịu rời bỏ đất đai để  phát triễn công nghệ, nhưng lợi lộc  phát triễn cho họ rất thấp kém, theo nhận xét của Lê văn Dũng, phó giám đốc xử lý EZ Dung Quất, tháng 11 năm 2011.

 

     Những công nghệ đáng kể khác của EZ Dung Quất

 

           Nhà mát Doosan Vina

   Đây là nhà máy chế tạo các tiện nghi máy điện  duy nhất nước nhà của liên doanh  Doosan Heavy Industry- Công nghệ Nặng Inc. Doosan là một công ty Hàn Quốc – Nam Hàn và Mecca Tech, thành lập tháng 2 năm 2007. Vị trí nhà máy chiếm khỏang 1 triệu  m2 đất đai. Cho đến nay, liên doanh đã đầu tư  300 triệu đô la Mỹ gồm những  ban như  Boiler – Nồi hơi, Desalination -Khử muối, HRSG, MHE và CPE. Doosan Vina mỗi ngày mỗi tăng trưởng và phồn thịnh.

   

           Nhà máy thép

   Nhà máy thép của  công ty Tycoons Worldwide Steel Việt Nam Co. Ltd và Tổ hợp  Taiwanese E- United Corporation  chiếm 455 ha. Giai đọan I được họa kiểu để sản xuất mỗi năm 3 triệu tấn thanh thép nhỏ - billetscuộn sắt tròn nóng - hot roll coil, ngân khỏan đầu tư lên đến 556 triệu đô la, hình như đã họat động  giữa năm 2010, xử dụng  5000 công nhân địa phương. Toàn thể nhà máy với dự tính sản xuất 5 triệu tấn gang – pig iron , trù liệu hòan thành năm 2012.  Các nhà đầu tư của liên doanh đề nghị  tăng thêm vốn  nguyên thủy là 1.066 tỉ đô la lên  3.3 tỉ( 4.5 tỉ đô la Mỹ ? ). Căn cứ trên thay đổi này, các chủ nhân nhà máy sẽ đầu tư 1. 8 tỉ  cho giai đọan I, thay vì  556 triệu.

 

      Dự án nhà máy giấy và bột giấy Tân Mai – Quảng Ngãi

   Công ty liên doanh  giấy -  Tan Mai Paper Joint-Stock  ở khu kỷ nghệ  Biên Hòa ( tỉnh Đồng Nai ) đã được cấp môn bài xây dựng nhà máy Giấy và Bột Giấy Quảng Ngãi ở EZ Dung Quất. Diện tích công ty chiếm  44ha ở xã Bình Long, huyện Bình Sơn  với tổng số tư bản đầu tư là 200 triệu đô la, họa kiểu để sản xuất 200 000 tấn giấy và 130 000 tấn bột giất một năm.  Đây là một nhà máy kỷ thuật và trang bị cập nhật tân tiến trên thế giới  của nhà cung cấp Metso, và sẽ sản xuất các sản phẩm tốt đúng Tiêu chuẩn  Bắc Mỹ - North American Standards . Xây cất nhà máy này sẽ có ưu điểm là sử dụng nguyên liệu tỉnh nhà làm giấy, thay vì xuất khẩu dưới hình thức mảnh gỗ bào- wood chip,  trị giá kém cõi.

 

     Các công nghệ khác dự trù cho 2015 – 2020

      Các nhà máy liên  hệ  đến hóa học và lọc dầu  dự liệu cho thời gian 2011- 2015 là  LPG 250 000 t/năm, N- paraffin  65 000 t / năm, plastic polystylene  60 000 t/năm, carbon black 50 000 t/năm,  chất tẩy sạch – detergents công nghệ 80 000 t/năm. Tổng số đầu tư lên đến 250 triệu đô la. Cũng như hòan tất các dự án LAB- linear alkyl benzene,  carbon black,  lốp cao su xe hơi  xuyên tâm- radial  rubber tire , plastic PVC và PE .  Thời gian 2016- 2020 sẽ cố gắng thiết lập một phức tạp lọc dầu hóa chất dầu lữa mới,  hầu tăng gia  giá trị các hóa chất dầu lữa  lên 1.5-  2 lần hơn 2015  và giá trị thêm lảnh vực này 3 lần hơn con số năm 2015. Tưởng cũng nên nhắc qua đến  công nghệ vật liệu, đồ sành sứ,  đồ gốm và gương  lên đến  6.2 % GDP công nghệ tỉnh , khai thác các mỏ đá ở Đốc Sỏi  huyện Bình Sơn,  Phổ Phong ở huyện Đức Phổ,  Ba Động ( ? ) ở huyện Ba Tơ, dọc theo quốc lộ 24  và vùng phía Nam Đức Phổ . Đầu tư khai thác và chế biến  các kim lọai giá trị của tỉnh như sắt, titanium, kẻm và đất hiếm.  Đầu tư làm nhà máy nước khóang ở Bình Đông, xã Trà Bình  huyện Trà Bồng, khai thác  nguồn nước khóang Nghĩa Thuận, Thạch Trụ và Thạch Bích. Có lẽ không nên quên công nghệ may mặc, dày dép  sản xuất 3-  3.5 triệu quần áo và  1 triệu đôi dày dép/ năm  và nhà máy  sợi  PE  200 000 t/năm.   

    

          Nhà máy ethanol sinh học

         Do Tập đòan Dầu và khí dầu Việt Nam-PetroVietnam đầu tư thiết lập ở EZ Dung Quất , trên 24 ha đất đai, dung lượng dự tính là 100 triệu lít alcohol- rượu

cồn một năm, thõa mãn 25 % yêu cầu vật liệu làm E-5 nhiên liệu sinh học nước nhà Tổng số vốn đầu tư là 1.5 ngàn tỉ - trillion đồng VN. Vật liệu chánh là khoai mì – sắn , khỏang 240 000 tấn một năm .

 

            Nhà máy đóng tàu thủy

         Do một đơn vị của Tập Đòan Công Nghệ Đóng Tàu Thủy- VietNam Ship Building Industry Group  (VINASHIN)  tên gọi là Xưởng Đóng Tàu Thủy- Dung Quất Shipyard  thiết lập . Xưởng Dung Quất do Vinashin đã xây dựng lên từ năm 2003. Cho nên nay  đã có  nhiều kỷ sư khéo léo và công nhân lành nghề, hạ tầng cơ sở vùng cơ xưởng – workshop  chiếm  130 250m2.  Bến cảng bơm nước ra sửa chửa bộ phận tàu duới nước  - Dry dock  số 1, chiều dài  80m, chiều rộng 86m, sâu 14 m có thể  đóng tàu trọng tải 300 000 tấn DWT. Bến Dry -dock số 2 đã làm xong mau lẹ. Xưởng Đóng Tàu Dung Quất  là xưởng cận đại nhất ở Việt Nam và cũng là một xưởng đóng tàu thủy  lớn nhất vùng Đông Nam Á- ASEAN  để đóng tàu trọng tải lên đến  400 000 DWT. Chiến lược của  Xưởng Dung Quất :  “Đóng tàu cở lớn,  giao tàu mau lẹ, phẩm giá tốt,  mức an toàn cao, giá rẽ ”  cho thị trường trong  nước và  ngọai quốc  có bị ngưng trệ phần nào vì không rỏ nay tổ hợp chánh  Vinashin đã giải quyết xong những khó khăn : nợ nần, tài chánh, quản trị, đầu tư  …( ? ) chưa ?

      Tổng số công ăn việc làm tỉnh Quảng Ngãi  đã gia tăng từ  571  400 người năm 2000 đến 704 700 người năm 2008. Công nghệ  đã tạo ra 63 200 công ăn việc làm, dù  có giảm bớt nhiều ở lảnh vực Nông Lâm Ngư trong thời gian đó. Năm 2007 đã sử dụng 99200 người . Chánh quyền dự trù  tạo ra mỗi năm  35 -38 000 công việc mỗi năm từ 2011 đến 2015 và  38-42 000 mỗi năm  từ 2016 đến 2020. Tuy đứng xa phía sau công nghệ, tính theo giá trị thêm, Dịch vụ  cũng dùng 180 000 người  năm 2007 so với  57 000 năm 2000 .

                             

     Hạ tầng cơ sở : sơ lược  hiện tại tương lai đường bộ , đường sắt, đường thủy, cảng biển , cảng sông , nước sạch, hệ thống điện thọai dịch vụ Internet v.v..

   

     Tiến bộ công nghệ -xây cất và dịch vụ du lịch- thương mãi… mau lẹ hay không tùy thuộc vào hạ tầng cơ sở tốt, xấu. Tháng 11 năm 2010, tỉnh Quảng Ngãi đã dự trù đầu tư nâng cấp  7 đường bộ  ngang  theo kinh tuyến   3 đường bộ dọc   theo vĩ tuyến  lên các tiêu chuẩn ít nhất là hạng III hay hạng IV ở các vùng núi non. Mọi đường thị trấn đều phải trải nhựa- asphalted hay đúc bê tông- concrete . Các đường huyện sẽ  đạt hạng IV hay V. Các đường đến trung tâm xã sẽ phải đạt các tiêu chuẩn  hạng A hay hạng B.  Vài tỉnh lộ phải nâng cấp lên  các tiêu chuẩn  hạng IV. Đặc biệt  các tỉnh lộ  623 và 625  ( khúc đọan km 4 đến km 26+800) phải đạt các tiêu chuẩn hạng III  trong thời gian 2011-2020. Tỉnh dự tính  nâng cấp  con đường chạy  từ Dung Quất  ngang qua Trà Bông, Trà Thanh, Trà My và Tắc Pó ( ? ) đến  đường Trường Sơn công nghiệp ( đường số  14 cũ ) thành một quốc lộ. Sau năm 2010, 90% đường huyện, 70% đường liên xã, liên thôn sẽ được trải nhựa hay đúc bê tông. Nâng cấp con  đường từ  huyện lỵ Ba Tơ, ngang qua  Ba Trang ( ? ) và Phổ Ninh  đến  quốc lộ số 1A thành tỉnh lộ,  cũng sau năm 2010. Nâng cấp các đường thị trấn lên hạng III lọai đường thị trấn sau 2010 và hạng IV sau 2020. Cố gắng  hòan thành một mạng lưới xe búyt -xe đò ( di chuyễn quần chúng- mass transit ) bằng cách  xây một trạm  xe ( đò ,  buýt - coach station), tiêu chuẩn I ở thị xã Quảng Ngãi , trạm xe Sơn Tịnh ( phía Bắc trạm xe  thị xã Quảng Ngãi) lên hạng III,  12 trạm xe ở các huyện lỵ  và trạm  cho xe  búyt ngừng – bus stop  các trung tâm liên xã các huyện núi non. Đáng kể nhất là  tháng giêng 2012, Ngân Hàng Quốc Tế  lần đầu tiên đã cho vay 613 triệu đô la Mỹ  (trong tổng số  972 triệu gồm luôn 2 mục tiêu khác, ở tỉnh khác ) để xây dựng  Xa Lộ Cao Tốc -  Express Way   Đà Nẳng- Quảng Ngãi . Xa lộ cao tốc này dài  131 Km, rộng 26m , xây 126 cầu và một đường hầm sáu lằn. Ngân khỏan tài trợ chia ra 2 phần: một phần để bồi hòan đất đai truất hửu, tái định cư các gia đình phải di dời…, phần kia  cho Tổ hợp Xa Lộ Cao Tốc Việt Nam  - VN Express Way Corporation ( VEC ) thực hiện, huấn luyện kỷ thuật tân tiến làm xa lộ cao tốc cho nhân viên , chuyên viên VN…. Sẽ khởi sự quý thứ 3 năm 2012 và hòan tất năm 2017. Đây là một dự án, tổng phí 1.4 tỉ đô la, do Cơ Quan Hợp tác Quốc tế Nhật bổn-Japan International  Cooperation Agency( JICA ) đài thọ  để giải quyết những thách đố  đang trỗi dậy của một nước lợi tức hạng trung  còn thấp- lower middle country.                               

    Sẽ xây  một đường rầy xe lữa ( đưòng sắt ) cở 1435mm, từ trạm Tri Bình nối đường xe lữa Bắc -Nam đến đường xe lữa đến cảng Dung Quất.  Nâng cấp và nới rộng  các trạm Bình Sơn và Đức Phổ thành 4 sân ga và  trạm Quảng Ngãi  thành một trạm cho cả vùng  với 6 sân ga.

    Sẽ nâng cấp  phi trường quân sự  Quảng Ngãi thành một phi trường  hai mục đích quân -dân sự    dùng cho các chuyến bay – tắc xi , phụng sự các họat động  phát triễn kinh tế xã hội tỉnh nhà.  Đầu tư phục hồi  phi trường Lý Sơn ( Cù lao Ré ) ,có thể  thích nghi cho máy bay trực thăng ( lên thẳng ),  góp phần phát triễn kinh tế xã hội  cũng như  quốc phòng và an ninh nước nhà. 

      Về đường sông, nâng cấp và phục hồi  các đường  từ Châu Ổ- Sa Cần  đến  nhà máy thủy điện Cà Đu ( trên sông Trà Bồng)  và từ Cửa Đại đến đập  tưới ruộng đất  Thạch Nham ( trên sông Trà Khúc ) . Khai thác mạnh mẽ hơn nữa các đường sông dọc theo  Linh Giang, sông Vệ, sông Trà Câu,  và đường biển Sa Kỳ- Lý Sơn.

     Tiếp tục  thực hiện biến cảng Dung Quất   thành một cảng  công dụng đặc biệt cho  miền địa phương    kho chứa công ten nơ- container depot. Cùng lúc, nghiên cứu và qui họach xây cất cảng sâu  Dung Quất II có thể nhận tàu trọng tải đến 26 000 DWT , dung lượng  30 triệu tấn một năm vào năm 2020  và cảng Sa  Kỳ ( xã Tịnh Kỳ ) nhận được tàu trọng tải 2000 DWT, dung lượng 3- 400 000 tẩn năm vào năm 2020.  Dự tính  làm các bến cảng nhỏ đa mục đích như Cỗ lũy,  Mỹ A,  các cảng cá Lý Sơn, Sa Huỳnh, bến tàu đậu quân sự  Lý Sơn và thực hiện các tiện nghi cần thiết  giai đọan II cho Lý Sơn thành  nơi tàu bè tránh bảo tố.

       Về điện, trước tiên  là duy trì tu bổ  để bảo đảm phẩm giá các mạng lưới điện tỉnh, hầu cung cấp đủ điện tỉnh dùng. Lợi dụng các ưu điểm  thiên nhiên  xây dựng 15 nhà máy thủy điện cở trung và cở nhỏ ( tổng công xuất các nhà máy sông Trà Khúc  40 000 kw, Nước Trong 16 000 kw và Dakring 170 000 kw…) ,  sử dụng điện gió, điện mặt trời tại những vùng xa xôi hẻo lánh, các hải đảo  hiện chưa được mạng lưới  điện quốc gia bao phủ, và làm một nhà máy nhiệt điện 8000 KW ở đảo Lý Sơn.  Có lẽ đáng nêu thêm ở đây là ngày 12 tháng giêng năm 2012, Tổ hợp Sembcorp- Singapore  đã ký kết với Ủy Ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi,  một  thỏa hiệp MOU khảo sát  khả thi một nhà máy nhiệt điện than đá 1200 000 kw ở EZ Dung Quất .

      Về cung cấp nước sạch, thị xã Quảng Ngãi dự trù  tăng dung tích nhà máy  nước Quảng Ngãi lên đến 45 000 m3 / ngày  và nhà máy Dung Quất đến 100 000 m3 /ngày  và xây cất  một nhà máy nước 33 000 m3 /ngày để chế biến quặng sắt. Làm một hồ chứa nước lớn hơn để hòan tất hệ thống  tưới tiêu và bớt lũ lụt Thạch Nham  và hồ Nước Trong, hổ trợ hệ thống Thạch Nham.  Xây dựng hồ tưới tiêu Chóp Vung ( ? ), cũng như  làm  phần đê – đường chuyên chở dọc bờ biển Dung Quất – Sa Huỳnh  bờ biển của dự án đê - đường bờ biển “ngự hàn, chống nước biển bảo lụt, sóng thần dâng cao bất ngờ” từ Quảng Ngãi miền Trung đến Kiên Giang miền Nam( cũng cố hệ thống quốc phòng, bảo vệ an ninh bờ biển xứ sở chống cự lại các cuộc tấn công ngọai xâm từ Biển Đông,  có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Đầu tư thêm xây cất và họat động các hệ thống làm sạch  nước thải ở các công viên công nghệ, các cơ sở  công nghệ, các trung tâm đô thị hay vùng đông dân cư. Bảo đảm đến các năm 2015- 2020,  65- 75 % nước thải công nghệ phải được trị liệu theo căn bản những tiêu chuẩn  đã khuyến cáo.

     Trên phương diện thông tin và truyền thông, nới rộng bao phủ điện thọai di động đến mọi xã  cũng như các dịch vụ điện thọai và Internet phổ thông.  Tỉ trọng  điện thọai phải đạt 114 máy/100 người năm 2015 và 130 máy /100 người năm 2020.  Trong thời gian 2011- 2015 đặt 250km dây cáp quang học và thiết lập thêm 159  trạm tiếp nhận căn bản. Thời gian 2016- 2020, phải hòan tất một mạng lưới cáp ngầm  thay thế cáp giăng trên trời ở mọi vùng dân gian cư ngụ, các cụm và công viên công nghệ  trong khi  đó mọi xã  thảy đều phải có cáp quang học.  Mọi trường trung học và các cơ sở y tế tỉnh sẽ có đường vào những dịch vụ Internet. 25 -30% dân gian tỉnh sẽ dùng Internet  và các dịch vụ  công quyền điện tử - e- government services, G2B, G2C, G2G, B2B, B2C .

 

        2 phát triễn dịch vụ Quảng Ngãi đáng lưu ý: du lịch và đô thị hóa

      

     Năm 2010 ngành du lịch Quảng Ngãi  đã có nhiều thành công, nhờ nắm được cơ hội sự cố chánh tỉnh nhà như 65 năm khởi nghĩa Ba Tơ,  35 năm “ giải phóng”  Quảng Ngãi, hội nghị Văn Hóa Thể Thao các học sinh mọi tộc dân  tỉnh ở ký túc xá , Thảo luận Hợp tác Kinh tế  các EZ then chốt miền Trung. Tiền thu về dịch tỉnh nhà  đạt 215 tỉ đồng VN, tăng 26 % so với năm 2009. Tổng số du khách đến tỉnh  là 330 000 người, tăng 12 % so với năm 2009 .  Năm 2011,  du lịch Quảng  Ngãi nhắm thu hút 360 000 du khách và thu nhập 250 tỉ đồng VN.  Dự trù năm 2015 sẽ đón chào   600 000 du khách, thu nhập 700 tỉ đồng VN , 3.3 lần hơn năm 2010 . Nhờ thực hiện đường Mỹ Khê – Trà Khúc, khúc đọan Dung Quất – Sa Huỳnh của đê- đường dọc biển dự án quốc gia  Quảng Ngãi – Kiên Giang và khởi sự đập Sông Trà Khúc. Ngòai Khách sạn 3 sao  Petro Sông Trà Hotel , khánh thành tháng 3 năm 2010 ở trung tâm thị xã tỉnh: có 87 phòng , câu lạc bộ tạo sung sức – fitness club, hồ tắm, sân quần vợt, nhà tắm hơi,  phòng hát karaoke,  và trung tâm đấm bóp spa. Phòng ăn dọn các món ăn  Việt,  Mỹ và Âu Châu… và các danh lam thắng cảnh văn hóa lịch sử , các  cơ sở  công nghệ , thủ công,  hai  cơ sở đáng nêu lên là khu Nghĩ mát - Mỹ Khê Resort    Phim trường Vina ( wood ) Universal Paradise  - Thiên Đường ( Vọng, kiểu Hồ ly Vọng- Hollywood ? bang Ca Li, Hoa Kỳ hay Cinnacitta Roma , Ý  ) Phổ cập Thế Giới Vina .

    Công ty Hợp tác Tài Chánh - PetroVietnam Finance Coopreation ( PVEF )  đang xây cất một Khu Nghỉ mát 4 sao ở  Bải Biển Mỹ Khê Beach, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh  , tỉnh Quãng Ngãi. Khu Nghỉ mát đa chức năng này chiếm 24 ha, tổng số đầu tư  là 400  tỉ đồng VN ( 120 triệu đô la Mỹ ), có thể nhận  500- 700 khách trọ. Đây là nơi nghỉ tỉnh dưỡng bờ biển lớn nhất tỉnh, gồm nhiều biệt thự - villa  sang trọng, một khách sạn 100 phòng 4 sao, có khu thể thao, công viên xanh …. , dự trù hòan tất năm nay 2012 . Khu  Vina Universal Paradise  là một phim trường kích thước lớn, cận đại , đa chức năng đầu tiên nước nhà, được cấp môn bài thiết lập ở huyện Đức Phổ, phía Nam tỉnh. Thiên Đường chiếm 12569 ha được Biển Đông bao phủ phía Tây, Dãy núi  Trường Sơn  phía Đông, cửa biển Sa Hùynh phía Nam và xã Phổ Khánh phía Bắc. Dự án lên đến 50 triệu đô la Mỹ, do công ty liên doanh cổ phần Tân Tạo  Joint Stock Company ở Sài Gòn ( TP HCM ) đầu tư, gồm các vùng du lịch, thương mãi, dịch vụ  ban biệt thự cao phẩm, biệt thự  trên đồi, vùng thể thao và lực sĩ, khu nghĩ mát bunga lô- nhà gỗ một tầng v.v…  Dự án  hy vọng kích động đột khởi phát triễn kinh tế xã hội  phía Nam tỉnh nhà. Quảng Ngãi cũng hy vọng là GDP dịch vụ,  năm 2015,sẽ đạt  30.8 %  và 32,4 % năm  2020.  Quảng Ngãi dự tính  phát triễn 5 vùng du lịch chánh:  vùng du lịch  trung tâm  là thị xã Quảng Ngãi và lân cận, vùng Đông Bắc tỉnh là thị trấn Vạn Tường và lân cận, vùng Nam là bờ Biển Sa Hùynh và lân cận,vùng Tây Nam là Ba Tơ và lân cận, vùng Tây Bắc là Trà Bồng và lân cận, có các  hút dẫn du khách chánh  là Thiên Đàng ( Khê Hải ), Vạn Tường, Ba Làng An, Mỹ Khê, Sa Huỳnh,Nước Trong - Cà Đầm( ? ). Tỉnh còn muốn phát triễn những chuyến du lịch hướng dẫn liên tỉnh, phối hợp các khu nghĩ mát du lịch môi sinh với các làng thủ công các huyện đồi núi. Lợi tức hàng hóa và dịch vụ  năm  2020 sẽ cố gắng đạt  400 – 410 triệu đô la Mỹ năm 2020.  

    Trên phương diện đô thị hóa, trước tiên là mở rộng thị xã  Quảng Ngãi về phía huyện Sơn Tịnh ,gồm  6 xã và thị trấn  huyện lỵ Sơn Tịnh  và 2 xã  Nghĩa Hà và Nghĩa Phú , huyện Tư Nghĩa. Thị xã sẽ có ranh giới  phía Đông là Biển Đông  và xa lộ cao tốc  Đà Nẳng – Quảng Ngãi  về phía Tây.  Năm  2015, thị xã sẽphải đạt  hạng tiêu chuẩn đô thị II và đến năm 2020, các hạtầng cơ sở  thị xã phải hòan tất, cảnh quanh phải  làm đẹp thành một đô thị cận đại Bờ biển miền Trung. Thị trấn Vạn Tường phải  thành một  trung tâm thị trấn  bờ biển ba chức năng công nghệ dịch vụ và du lịch cảnh quan  đẹp đẽ , kiến trúc tân thời nhưngđầy đặc điểm quốc gia xen  hạ tầng cơ sở  tân tiến .  Huyệnlỵ Đức Phổ phải trở thành một thị trấn tỉnhvào năm 2015 cho vùng phía Nam tỉnh , một trọng tâm  kinh tế , văn hóa và du lịch của tỉnh .  Thịtrấn Đốc Sỏi  sẽ trởthành  một đô thị hạng IV năm 2015 và  Châu Ổ  sẽ đạt vài tiêu chuẩn đô thị IV năm 2020.  Thiết lập và phát triễn các  thị trấn huyện lỵ mới ở Sơn Tịnh , Trà Câu, Thạch Trụ , Sa Hùynh . Năm 2020 , thiết lập  thị trấn  Nam SôngVệ  và Phổ Phong.

     Đừng quên phát triễn nông lâm ngư

 

    Theo Lương Nông Quốc tế, Việt Nam đã nêu gương cho các nước đang mở mang nhờ tiến bộ nông nghiệp,trong khi chú trọng Công Nghệ -Dịch vụ hóa mau lẹ nước nhà sau chiến tranh tàn khốc . Tuy nhiên dù Quảng Ngãi có diện tích nông nghiệp tương đối lớn, GDP nông nghiệp Quảng Ngãi lại thấp kém so với các tỉnh trong vùng .  Lúa gạo chiếm diện tích lớn nhất, tập trung quanh thị xã Quảng Ngãi. Năm 2007 chỉ thu họach được  381 000 tấn lúa  trên diện tích  trồng lúa chừng80- 90 000 ha , nghĩa là năng xuất  khỏang 4.2-4.8 tấn/ha,trong khi  trung bình năng xuất lúa nước nhà đã là 5- 5.5 tấn/ ha. Phải cố gắng thêm nhiều nữa hầu mau lẹ đạt mức quân bìnhtự túc thực phẩm cho mỗi đầu  người  là trên 500 kg thực phẩm, vì nay đã có  giống  cao năng, cao phẩm và  kỷ thuật sản xuất cận đại thích nghi và đã có thể nới rộng thêm mùa vụ , diện tích tưới tiêu nhờ  các hồ đập thủy điện địa phương .  Cả ba nông phẩm chánh tỉnh nhà là mía  7300 ha- 390 000 tấn, đậu phụng  5700 ha – 11 000 tấn , dừa 2700 ha  13 726 tấn  dều có năng xuất kém so với các năng xuất trung bình thế giới nay Việt Nam đã biết được. Đô  thị hóa nhanh thì phải chuyễn nông nghiệp lúa cỗ truyền qua các ngành trồng rau đậu, như trồng tỏi ở đảo Lý Sơn, hoa kiểng, ngành công nghiệp thượng tầng cao ốc hay dọc các bồn đường xá, khu trống làm xanh công viên,cụm công nghệ v.v… Tây Bắc và Tây Nam Quảng Ngãi là những nơi  chăn nuôi nhiều súc vật ,  287 000 con năm 2007.  Trọnglượng trâu bò sống  dự trù năm 2015 sẽ đạt  81 000 tấn và năm 2020 sẽ đến  130 000 tấn .  Tỉ lệ sản lượng thủy sản Quảng Ngãi trên tổng số sản lượng  quốc gia cao hơn  tỉ số sĩ số dân trên tổng số dân nước nhà . Nhờ lợi lộc hải sản  đảo Lý sơn . Tuy nhiên khác  miền Trung khác  không có các đàn cá phong phú ngòai khơi tỉnh nhà, nên phải đánh cá xa bờ Hòang Sa,yTrường Sa,Biển Tây (? ).  Tỉnh dự trù xây đắp một hệ thống  nuôi trồng hải sản – q aquaculyure  system,  trước tiên  ỏ các cảng cá Sa Huỳnh  và Sa Cần, trung tâm hậu cần ngư sản Sa Kỳ,  vét Cửa Đại ( Nghĩa Phú ) và  thiết lập các   cảng cá Mỹ A, Cửa Đại – Cỗ Lũy. Về phát triễn lâm nghiệp , Quảng Ngãi phảichú tâm đến các lòai cây cung cấp dược phẩm,hương thơm.. như quế, trầm hưong…,  trong chương trình lại rừng bị tàn phá  mục dích   tăng tỉ lệ diện tích rừng bao phủ  lên 47-48 %  năm 2015 và   trên 50% năm 2020 …

                            

              ( Irvine , Ca Li ngày 21 tháng 3 năm 2012 )

 

 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 230413 visitors (858188 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=