thnlscantho-3
  Phát triển Quãng Ngãi
 
19/3/2012

Cố gắng biết rõ hơn một tỉnh miền Trung “ hay co”:

Công nghệ, Dịch Vụ tỉnh Quảng Ngãi có tiến như Đồng Nai – Biên Hòa, Bà Rịa- Vũng Tàu không?
GS Tôn thất Trình


 
Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co,
Bình Định hay lo, Thừa Thiên ăn hết.”
Phần I : Tổng quát
Vị trí:
Quảng Ngãi (Nghĩa) là một tỉnh duyên hải biển Đông miền Trung Việt Nam cách phía Nam Hà Nội 883 km và cách phía Bắc Thành phố Sài Gòn (HCM) 838 km; vĩ tuyến 1500’ Bắc và kinh tuyến 1080 40’ Đông. Quảng ngãi là vùng then chốt cho Vùng Trọng Điểm Kinh tế miền Trung, qui họach sau năm 1975 và Hành Lang Kinh tế Đông Tây – East- West Economic Corridor. Quảng Ngãi là trung tâm quan trọng cho hệ thống giao thông quốc lộ Nam Bắc số 1A , đường xe lữa ngang qua tỉnh nhà và quốc lộ 24 nối Quảng Ngãi với Tây Nguyên đến Lào, Căm Bốt, Thái Lan và Miến Điện – Myanmar. Quảng Ngãi cỏ cảng sâu là Dung Quất, cách hai sân bay quốc tế Chu Lai 35 km và Đà Nẳng 120 km. Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, Nam giáp tỉnh Bình Định, Tây giáp tỉnh Kontum và Đông là Biển Đông – Thái Bình Dương.
Diện tích tỉnh là 5137km2 (1983.6 dặm Anh vuông). Dân số tháng 4 năm 2009 là 1217 150 người . Mức gia tăng dân số từ năm 2001- 2007 là 1 % mỗi năm, nhỏ bé hơng mức gia tăng dân đô thị ước lượng là 3. 9% mỗi năm, một trong tỉ xuất cao nhất các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ. Tuy rằng Quảng Ngãi nay vẫn còn là tỉnh đô thị hóa kém nhất vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, chỉ 14.4% sĩ số dân tỉnh sống ở đô thị. Cũng như các đồng bằng duyên hải miền Trung, thành phần tộc (sắc ) dân rất thuần nhất, hầu như tòan thể dân chúng ( trên 99% ) nay là tộc dân Kinh( Việt ). Cộng đồng Hrê chỉ khá nhiều ở Tây Nam tỉnh. Họ là đa số cư dân ở các huyện Ba Tơ, Sơn Hà (trước đây gồm luôn cả huyện Sơn Tây). Một số nhỏ tộc dân Co ( ? ) sinh sống ở huyện Trà Bồng (trước đây gồm luôn huyện Tây Trà. Ngòai ra còn một nhóm nhỏ tộc dân Xê Đăng ở huyện Sơn Hà. Nhắc lại theo Mặc Đăng, Xê ( Xơ ) Đăng có chừng 73 100 người, nhiều nhất ở hai tỉnh Gia Lai, Kontum khỏang 45 330 người, H’Rê ( chừng 66 884 người, đông nhất ở Quảng Ngãi và Bình Định 65 797 người ), Co (chừng 16 828 người, tập trung phía nam Đà Nẳng, và ở hai tỉnh Nghĩa Bình), thuộc họ ngôn ngữ Nam Á, nhóm Môn –Khmer. Còn tộc dân Kinh hay Việt, ngôn ngữ khác hẳn, cũng thuộc họ Nam Á, nhóm Việt – Mường.
Về hành chánh, nay Quảng Ngãi chia ra 13 huyện và thị trấn duy nhất là tỉnh lỵ Quảng Ngãi . Đó là các huyện Ba Tơ, Bình Sơn, Đức Phổ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Sơn Tây, Sơn Tịnh, Tây Trà, Trà Bồng, Tư Nghĩa, Lý Sơn ( huyện đảo Cù lao Ré ở Biển Đông ). Quảng Ngãi có 10 thị trấn huyện lỵ, 161 xã và 10 phường (theo thống kê năm 2002).
Suôi dòng thời gian và lịch sử
Thời kỳ văn minh Sa Huỳnh, đồng niên đại văn minh Đông Sơn( sông Hồng ), Văn Minh Đồng Nai và văn minh Ốc Eo- Ba Thê(sông Hậu).Ở phía Nam quận Đức Phổ giáp giới tỉnh Bình Định là làng đánh cá, ruộng muối biển… Sa Hùynh và các địa danh lân cận, các nhà khảo cổ Pháp đã phát hiện đầu tiên di tích một nền “văn hóa- văn minh Sa Huỳnh” từ đầu thiên niên kỷ thứ hai đến 1-2 thế kỷ trước Công Nguyên ( BC ) , thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau, đạt đỉnh cao thời đại sắt. Đó là những bát gốm, mâm đồng hình con tiện được tô màu đỏ, chì, những hoa tai có mấu, những đồ trang sức hai đầu thú và tục chôn người chết trong mộ chum v.v… Các di tích này cũng được khai quật thêm tháng 7 năm 2011 ở hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Ít nhất là đã đào được một ngàn chum – jars, từ năm 1975. Chum đặt thẳng đứng, chứa các đồ vật cúng dâng như đồ gốm đất nung – earthenware ceramics, các vật dụng đồng thau và sắt, châu báu trang sức; vài đồ trang sức bị phá hủy khi làm tang lễ chôn cất. Chum cỗ và bông tai hai đầu thú cũng được khai quật ở nhiều xứ khác như Đài Loan, Phi Luật Tân và Thái Lan, ngòai Việt Nam. Khiến nhiều nhà khảo cổ cho rằng văn hóa Sa Huỳnh nhập vào Việt Nam từ Nam Á và là tiền thân của văn hóa Champa cũng đến Việt Nam từ Nam Á (?) sau đó . Đôi khi bông tai hai đầu thú chế tạo bằng gương- glass , đeo hai bên tai, ít nhất là một bông tai di tích này vẫn còn lủng lẳng ở một sọ người khai quật. Những đầu thú hai đầu ở cuối bông tai giống như sừng bò lòai Pseudoryx nghetinhensis, tìm thấy ở tỉnh Nghệ An. Dù sao đi nữa, Sa Huỳnh là một trung tâm văn minh văn hóa Việt Nam sơ khai cùng niên đại với các văn minh Đông Sơn – Sông Hồng, văn hóa lưu vực Đồng Nai, văn hóa Ốc Eo – Ba Thê và vùng bìa rừng U Minh ( di tích Trăm Phố ), chiếu theo Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn , Hòang Xuân Chinh ( 1989 – 1995).
Nhà Hồ ngắn ngủi ( 1400 – 1407 )chiếm Cổ Lũy Động, nhưng chiến tranh Chiêm Việt liên miên ( Chiêm Thành lúc này đựợc Trung Quốc nhà Minh ủng hộ triệt để), đến đời Hồng Đức Lê Thánh Tông mới đặt được phủ Tư Nghĩa, phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay, thuộc Thừa Tuyên thứ 13 là Quảng Nam . Nhưng thành trì, thủ phủ Thừa tuyên Quảng Nam lại thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay .
Theo Phan Khoang (Việt sử xứ Đàng Trong, Quyển Thượng- 1967), sau khi lên ngôi Hồ Hán Thương tháng 7 năm 1402, đem đại quân đi đánh Chiêm Thành, cho Đỗ Mãn làm Đô Tướng. Vua Chiêm là Ba Địch Lại – Jaya Simhavarman V ,thua trận ở gần đất Chiêm sai cậu là Bố Điền dâng một con voi trắng, một con voi đen, phương vật và đất Chiêm Động để yêu cầu vua nhà Hồ rút quân. Chiêm Động là phần phía Nam tỉnh Quảng Nam ngày nay, chia ra làm hai châu Thăng, Hoa. Hồ qúi Ly, cha của Hồ Hán Thương, ép Bố Điền đổi tờ biểu, phải nạp luôn cả Cổ Lũy Động nữa. Cổ Lũy Động là phần phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay,chia làm hai châu Tư, Nghĩa . Nhà Hồ hạ lệnh cho dân có của mà không có ruộng ở Nghệ An, Thuận Hóa đem vợ con vào ở để khai khẩn. Còn Chiêm Thành thu lấy dân vùng này đem về nước, dân ở lại dùng làm quân đóng ở biên giới. Dân Việt vào khai khẩn phải thích (tục xâm mình lần đầu tiên) hai chữ tên châu mình trên cánh tay. Người Chiêm Thành không có họ, ai có họ là dân Việt mới đến sau.
Năm 1403, Minh Thành Tổ lên ngôi ở Tàu, chiếu theo tờ biểu bằng vàng lá Ba Đích Lại xin triều cống và tố cáo “An Nam” xâm lược, xuống chiếu răn giới nhà Hồ. Cũng năm 1403, Hồ Hán Thương đóng thuyền nhỏ đánh Chiêm Thành, dự tính chia các đất từ Tư Nghĩa trở vào Nam đến biên giới Tiêm La ( Chân Lạp ? ) làm châu huyện Việt, phong Phạm Nguyên Khôi làm Đại Tướng Quân, Đỗ Mãn là bộ quan đô tướng, vây thành Trà Bàn, nhưng Trà Ban được phòng thủ vững vàng, sau 9 tháng hết lương, phải rút quân về. Năm Minh Vĩnh Lạc thứ hai (1404), Chiêm Thành sợ không tồn tại được xin lệ thuộc bản đồ Minh Triều và xin Tàu sai quan sang cai trị. Minh Thành Tổ gửi 9 chiến thuyền sang cứu Chiêm Thành, trách Hồ Hán Thương và gửi phẩm vật tặng Ba Đích Lại. Năm 1406 ( ? ) quân Minh đánh quân nhà Hồ thua chạy, Chiêm Thành nhân cơ hội đem quân sang lấy lại Chiêm Động và Cổ Lũy Động. Quân Chiêm sau đó lấy lại Thăng Hoa rồi lại đánh Hóa Châu. Lấy được Chiêm Động và Cỗ lũy Động, năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407) vua Chiêm sai đem mấy người tài giỏi Việt bị bắt nạp cho nhà Minh. Không rỏ trong số này có kiến trúc sư Việt là Nguyễn An ( hay là bị bắt những năm sau ) bị đưa sang Băc Kinh làm nô lệ, nhưng lại giúp Vua Minh Thành Tổ-Vĩnh Lạc vẽ và xây cất kinh đô thứ ha, nay là Tử Cấm Thành (hòang thành đồ sộ Trung Quốc ngày nay ) Bắc Kinh. Nhà Minh bắt được cha con họ Hồ rồi, cử Đặng Tất làm Đại Tri Châu Hóa châu.
Năm 1407, Đặng Tất nghe tin Giản Định Đế nhà Hậu Trần dấy lên, bèn giết hết quân Minh, ra Nghệ An theo vua Hậu Trần. Nhưng năm 1409, vua Giản Định nghe lời dèm pha giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung, con Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Dị, con Nguyễn Cảnh Chân đem quân Thuận Hóa ra Thanh Hóa, tôn Trần Quí Khóach lên ngôi vua, hiệu là Trùng Quang. Năm 1423, Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân Minh đánh châu Thuận Hóa bắt được Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị. Vua Trùng Quang chạy sang Lão Qua ( Lào ) cũng bị bắt, chấm dứt nhà Hậu Trần. Tuy Trương Phụ có đặt quan cai trị phủ Thăng Hoa, nhưng Chiêm Thành vẫn có đặt Trưởng lộ chiếm quản, nhà Minh chỉ ghi tên mà thôi.
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua, sai trọng thần vào trấn thủ Hóa châu. Nhưng năm đầu Thiệu Bình ( 1434 ), thấy vua Thái Tông còn nhỏ, Chiêm Thành cướp Hóa Châu, nhưng phải rút về khi Tư Mã Lê Liệt đốc quân đánh đuổi. Vua Chiêm Ba Địch Lại mất năm 1441, từ đó Chiêm Thành bị nội lọan, ngọai xâm, lần lần suy yếu. Năm 1446, Đô đốc Lê Thọ điều khiển quân nhà Lê, đánh tan quân Chiêm chiếm Cỗ Lũy, Ly Giang (? ), Đa Gia ( ? ) và thừa thế đánh Trà Bàn, thắng lớn. Các vua Chiêm từ Ma Ha Qui Lai (cháu Ba Đích Lai ?) đến Ma Ha Qui Do (giết anh lên ngôi 1449 – 1458 ), Bàn La Trà Duyệt (Duyệt giết Quí Do năm 1458), đều cống nhà Minh và được nhà Minh phong vương. Riêng Trà Duyệt không cống vua Lê. Năm 1460, Trà Duyệt nhường ngôi cho em là Bàn La Trà Tòan. Trà Tòan sai sứ sang cống vua nhà Minh mới lên ngôi là Hiến Tông ( 1465 ), để khôi phục lại đất đai nhà Trần lấn được ở Chiêm Thành, nhưng vua nhà Minh khuyên vua Chiêm không nên khinh xuất, gây chiến tranh với Đại Việt.
Thấy không được nhà Minh giúp, Trà Tòan sai sứ sang cống vua Lê Thánh Tông. Nhưng vua Thánh Tông muốn Chiêm Thành đối với Đại Việt như đối với Trung Quốc, buộc phải cống thêm. Chiêm Thành không chịu. Năm 1469, Trà Tòan sai sứ sang cống nhà Minh và sai quân đánh Hóa Châu. Nhưng năm 1470, sau khi sai sứ sang nhà Minh kể tội người Chiêm quấy nhiễu, vua Lê Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành. Ngày mồng một tháng 3 năm 1971, sau khi chiến thuyền quân Lê đến cửa biển Tân Áp ( phủ Tam Kỳ, Quảng Nam ) và cửa biển Cựu Tọa cách Tân Áp độ 7 dặm, chặn đường về 5000 quân Trà Tòan đánh lén ở cửa Sa Kỳ (ở tỉnh Quảng Ngãi ngày nay), thừa thắng xuất quân đánh Thị Nại ( tỉnh Bình Định ngày nay, tiến đến hạ thành Trà Bàn, bắt Trà Tòan và hơn 30 000 người. Hôm sau, ban sư về kinh đô. Em Trà Tòan là Trà Tọai (sử Minh gọi lầm là Trà Duyệt ) trước khi bị bắt, có sai sứ sang nhà Minh cáo nạn.
Năm 1472, sợ “An Nam” cường ngạnh” Minh Hiến Tông (Thành hóa thứ sai sứ sang phong vương cho Trà Tọai, nhưng khi sứ Minh cầm cờ tiết đến cảng Tân Châu ( cửa Thị Nại ) bị cảng cự, mới biết rằng Chiêm đã bị “An Nam” chiếm cứ rồi. Vua Lê Thánh Tông lại sai tướng tá đánh tới, mở đất đến biên giới hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, dựng bia ở núi Thạch Bi, phân chia địa giới hai nước. Uy quyền vua Đại Việt nay đến phủ Hòai Nhơn ( Nhân ), tỉnh Bình Định ngày nay. Hồng Đức năm thứ 2, tháng 6 năm 1471, vua Lê Thánh Tông lấy đất Chiêm Thành vừa chiếm đặt làm đạo Thừa Tuyên Quảng Nam là đạo Thừa Tuyên thứ 13 của Đại Việt . Thống lãnh 3 phủ, 9 huyện, phủ Thăng Hoa, phủ Tư Nghĩa, phủ Hòai Nhơn. Phủ Tư Nghĩa có 3 huyện là Bình Sơn, Mộ Hoa và Nghĩa Hành. Chúa Nguyễn Hòang đổi phủ Tư Nghĩa làm phủ Quảng Nghĩa. Thời Tây Sơn đổi làm Hòa Nghĩa ; Hòa Nghĩa trở về Nam thuộc Trung Ương Hòang đế Nguyễn Nhạc , Thăng Điện trở ra Bắc thuộc Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ . Còn Mộ Hoa thời Thiệu Trị đổi là Mộ Đức vì kỵ húy chữ Hoa. Năm 1490 , vua Lê Thánh Tông đổi tên đạo Thừa Tuyên thành Xứ . Đời vua Hồng Thuận Lê Tương Dực đổi tên Xứ làm Trấn . Khi Đoan quận Công Nguyễn Hòang vào trấn thủ Thuận Hóa thì Trấn quốc công Bùi Tá Hán làm tổng trấn Quảng Nam. Năm 1568, Tá Hán mất. Năm 1570, Thái sư Trịnh Kiểm cho Nguyễn Hòang từ Tây Đô trở về trấn Thuận Hóa và cho kiêm nhiệm luôn trấn Quảng Nam.
Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh thay Tá Hán làm Tổng Binh cai trị trấn Quảng Nam, trao lại trấn này cho Nguyễn Hòang kiêm lảnh, và đổi về trấn thủ Nghệ An. Năm 1602 , Nguyễn Hoàng đổi tên Xứ thành Dinh , nhập huyện Điện Bàn, thuộc phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa vào Dinh Quảng Nam. Xứ Quảng Nam năm 1602 chỉ mới đến phủ Hòai Nhơn và biên giới cực nam là huyện Tuy Viễn (nay là Tuy Phước ) ; bên kia Tuy Phước là đất Chiêm Thành. Cũng vào năm 1602, Nguyễn Hòang cho xây dinh trấn thủ Quảng Nam tại xã Cần Húc, huyện Duy Xuyên. Trước khi có dinh Cần Húc, tất cả các vị trấn thủ sau Bùi Tá Hán đều đóng tại dinh Chánh Lộ , xã Cẩm Thành, huyện Chương Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi ngày nay. Như vậy vua Lê Thánh Tông đã chọn Chánh Mông ( hay Chánh Lộ ) thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay làm tâm điểm cho Đạo ( Xứ )Thừa Tuyên Quảng Nam, trên chiều dài Điện Bàn – Đá Bia. Một chi tiết khá hy hữu về kiến trúc thành trì dinh Chánh Lộ là dinh trấn thủ Quảng Nam này chỉ trổ có 3 cửa Đông , Tây và Bắc , không có cửa Nam (đề phòng quân Chiêm tấn công đến từ phía Nam chăng ? ). Sách Đại Nam Nhất Thống Chí về tỉnh Quảng Ngãi, mục thành trì, cũng ghi nhận là không có cửa Nam.
Năm 1611, Chiêm Thành đem quân sang xâm lấn, Đoan Quận công sai chủ sự là Văn Phong đem quân đi đánh lấy đất Phú Yên , phía Nam Tuy Viễn đặt làm Phủ Phú Yên chia ra hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa. Dinh Quảng Nam lúc bấy giờ mới thật sự đến Đèo Cả , biên giới tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa bây giờ . Đời chúa Vỏ Nguyễn Phước Khóat, xưng Vương, chia lảnh thổ Đàng Trong ra làm 12 dinh, phủ Quảng Ngãi thuộc dinh Quảng Nam tục gọi là dinh Chiêm ở xã Cần Húc, cũng như phủ Qui Nhơn ( đổi tên từ Qui Ninh ). Tuy nhiên phủ Quảng Ngãi và phủ Qui Nhơn lại đặt riêng chức Tuần vũ và chức Khám lý để cai trị. Lúc này, các đất đai sông Đồng Nai và sông Cữu Long gồm dinh Trấn Biên, dinh Phiên Trấn, dinh Long Hồ, và trấn Hà Tiên (vì Hà Tiên không do một trấn thủ mà do một đô đốc cai trị). Đời vua Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh và phủ Quảng Ngãi thành tỉnh Quảng Ngãi và phủ Qui Nhơn thành tỉnh Bình Định ( có nghĩa là vua Gia Long đã bình định lấy lại được phủ từ nhà Tây Sơn ). Thời Pháp thuộc cũng giữ nguyên danh tánh này.
Ngay sau khi Nhật lật đổ chánh quyền thuộc địa Pháp, ngày 11 tháng 3 năm 1945, đảng Cọng Sản đã tổ chức khởi nghĩa cướp chánh quyền ở Ba Tơ. Toán du kích quân Ba Tơ gồm hàng chục ngàn dân quân đa số là tộc dân Hrê các huyện Ba Tơ, Sơn Hà, Minh Long ( thời gian này gồm luôn huyện Sơn Tây) cho Việt Minh, đã nổi tiếng từ đó và tiếp tục kháng chiến chống ngọai xâm ở Quảng Ngãi cũng như ở nhiều tỉnh khác (theo Lockhard, A Nation in Arm- The origin of the People ‘s Army of Viet Nam, Sydney, Australia -1989). Trong thời gian Chiến Tranh Việt Nam, Quảng Ngãi vẫn là tỉnh mặt Trận Giải Phóng Miền Nam – hay “ Việt Cọng” họat động mạnh mẽ, với những chiến dịch khốc liệt như Malheur I, Malheur II, Quyết Thắng 202 và những cuộc tàn sát dân chúng vô tội ở Bình Hòa, Diên Niên – Phước Bình năm 1966 , Mỹ Lai năm 1968 … Cả đôi bên đối thủ đã mô tả các thảm khốc này: đặc biệt là Nhật ký của Đặng Thùy Trâm (không kém bi thảm của nhật ký Anne Frank, Hòa Lan thời Thế Chiến Thứ Hai) một nữ bác sĩ miền Bắc xâm nhập đánh miền Nam ở huyện Mộ Đức và của sách Tim O’ Brien “The Things They Carried”. Năm 1975, hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi sáp nhập nhau thành tỉnh Nam Nghĩa. Sau đó lại tách ra thành hai tỉnh riêng biệt.
Ngòai các danh nhân lịch sử kể trên, có lẽ nên nói qua về hai nhân vật tỉnh nhà khác ít ai nói tới . Trước tiên là Nguyễn cư Trinh tuy không sinh ở Quảng Ngãi, nhưng công trình tại Quảng Ngãi cũng như mở mang xứ sở đến Hà Tiên-Cà Mau lại to lớn. Nguyễn Cư Trinh dòng dõi họ Trịnh ở huyện Thiên lộc – Hà Tĩnh, tổ tiên xưa là Trịnh Cam , Binh Bộ Thượng Thơ dưới triều Lê. Đến đời thứ bảy con cháu Trịnh Cam, chúa Minh Nguyễn Phước Chu, chúa thương tài Trịnh Đệ cho đổi họ tên thành Nguyễn Đăng Đệ . Con út Đăng Đệ là Nguyễn Cư Trinh sinh năm 1976, đậu hương cống năm 1940, và được bổ làm Tri phủ Triệu Phong. Năm 1750, thời chúa Vỏ Nguyễn Phước Khoát ông được cử giữ chức Tuần phủ ( Vũ ? ) Quảng Ngãi. Nơi đây thường có tộc dân Đá Vách Hrê ( ? ) khuấy phá , ông phải đem quân đánh dẹp. Để khuyến khích quân sĩ trong cuộc bình định này, ông có đặt ra tuồng Sải Vãi, tư tưởng Tống Nho như Hàn Dũ ở Trung Quốc và Trương Hán Siêu ở Việt Nam để động viên tinh thần các giới cứu nước. Công lao lớn nhất là năm 1973, ông được phái đi đánh Thủy Chân Lạp, góp công lớn vào cuộc mở mang đất miền Tây ( theo Nguyễn văn Sâm – Dòng Việt số 22 năm 2008 ). Nhân vật lịch sử thứ hai Phạm văn Đồng, sinh ngày 1 tháng 3 năm 1906, mất ngày 29 tháng tư năm 2000, tại làng Đức Tân, huyện Mộ Đức. tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1925, tham gia biểu tình sinh viên để tưởng niệm nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Năm 1926 đi Quảng Châu, thủ phủ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc tham dự lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc ( sau này đổi tên là Hồ Chí Minh ) tổ chức, rồi gia nhập hội Thanh Niên Cách Mạng Việt Nam, tiền thân của đảng Cọng sản Việt Nam. Năm 1929 bị chánh quyền Pháp thuộc địa bắt giam và kết án 10 năm tù đày ra Côn Đảo. Năm 1936, được chánh quyền Mặt trận Bình Dân Pháp tổng ân xá và thả khỏi tù. Năm 1940 chánh thức gia nhập đảng Cọng Sản Đông Dương, họat động theo đường lối Hồ Chí Minh lảnh đạo. Sau Cách Mạng tháng 8 năm 1945, được bổ nhiệm làm bộ Trưởng Tài chánh ở Chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cọng Hòa, Việt Minh mới thành lập. Năm 1946 là trưởng phái đòan Việt Nam tại Hiệp Định Sơ bộ Fontainebleau. Tháng 5 năm 1954 cũng làm trưởng phái đòan chánh phủ Hồ Chí Minh ký kết hiệp định Giơ Neo – Geneva với thủ tướng Pháp Mendès France, trên tư cách là Phó thủ tướng kiêm nhiệm BộTài Chánh. Năm 1955 được bổ nhiệm làm thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cọng Hòa. Ông cũng là một lảnh tụ chống Mỹ ở Chiến Tranh Việt Nam. Ông liên lạc mật thiết với Chánh Phủ Trung Cọng để nhận viện trợ Tàu đánh Mỹ. Ông cũng là một nhân việc chánh yếu đàm phán hòa bình dưới các chánh quyền Mỹ Lyndon Johnson và Richard Nixon. Ở đảng Cọng sản, ông là một nhà chánh trị khôn khéo, cố duy trì một tư thế trung lập trong những cuộc đụng chạm nội bộ đảng, đặc biệt khi thống nhất Việt Nam, sau năm 1975. Chánh trị thực dụng này giúp ông giữ vị trí thủ tướng trong 32 năm trời , mãi đến khi ông được Đại hội Đảng thứ 6 cho phép ông nghĩ hưu năm 1987. ( theo tài liệu của James Logan Courier – Wikipedia ngày 01 tháng 3 năm 2011 ).
Tuy nhiên, trong bang giao với Trung Quốc ông đã “sơ hở” gửi công hàm cho Thủ tướng Trung Quốc Châu Ân Lai ngày 14 tháng 9 năm 1958 nói rằng miền Bắc ( nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa) “công nhận và ủng hộ” tuyên bố ngày 4 tháng chín năm 1958 của Chánh phủ Trung Quốc là các quần đảo Hòang Sa ( Tàu gọi là Tây Sa, tên ngọai quốc là Paracels ) và Trường Sa ( Tàu gọi là Nam Sa , tên ngọai quốc là Spratleys ) , cũng như Đài Loan và các đảo lân cận, quần đảo Penghu, quần đảo Dongsha và quần đảo Zhongsha là lảnh thổ Trung Quốc ở biển Nam Hải – South China Sea ( Việt Nam và hình như mới đây Úc Châu ? gọi là Biển Đông – East Sea). Năm đó, miền Bắc đã nhận viện trợ Trung Quốc đánh miền Nam cho nên Hà Nội xem thái độ không phản đối tuyên ngôn Tàu là thực tiễn. Nhắc lại , Hòang Sa cách đảo Hải Nam chừng 150 dặm Anh về phía Bắc và Trường Sa chừng 550 dặm Anh về phía Nam. Tổng cộng có khỏang 150 đảo, phần lớn không dân cư, gồm nghiều rặng san hô và bải cát. Tháng giêng năm 1974, Quân đội Tàu tấn công và chiếm giữ nhiều đảo Hòang Sa mà nhiều năm qua đã dược chánh quyền Cọng Hòa miền Nam đóng giữ, khai thác phân chim và đánh cá quanh vùng. Hà Nội phản ứng đơn giản nói rằng mọi tranh chấp về lảnh thổ là phức tạp và và cần duyệt xét kỷ lưởng, giải quyết bằng đàm phán theo “tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và tình nghĩa thân thiện lân bang”; không phản đối mạnh mẽ hành động xâm lược của Trung Quốc, vì lúc đó đang nhận nhiều viện trợ kinh tế và quân sự Tàu. Tuy nhiên, Mai văn Bộ, đại sứ Việt Nam ở Pháp, đã nói chiến tranh năm 1974 ở Hòang Sa “ là hành động quân sự xâm lăng đầu tiên Trung Quốc chống Việt Nam” ( Theo Qiang Zhai, China &The Viêt Nam Wars, 1950 – 1975, The University of North Carolina Press- 2000 )
Địa hình , đất đai
Địa hình tỉnh Quảng Ngãi là một đồng bằng khá lớn dọc theo bờ biển và trung tâm tỉnh, đồi núi phía tây và dọc theo ranh giới tỉnh Quảng Nam và tỉnh Bình Định. Đất thấp còn nới rộng thêm dọc sông Trà Khúc. Theo Thái Công Tụng ( Vietnamologica số 6, năm 2005 ), diện tích đồng bằng này là 1450 km2 , nếu kể luôn cả các vùng hơi mấp mô phía Bắc tỉnh này như Mũi Bà Làng An phía Bắc quận Sơn Tịnh tên ba làng Vân An , An Chuẩn và Hải An ( tiếng Pháp là cap Batangan ). Nhỏ hơn tổng diện tích các đồng bằng Quảng Nam ( 2950 km2 ) vì có nhiều đồi núi thấp rải rác và đầm ven biển như đầm Nước Mặn ở thị trấn Sa Huỳnh, đầm Lâm Bình thông ra biển ở cửa Trà Cầu, huyện Đức Phổ. Bờ biển tương đối thẳng hàng ở phần lớn phía nam và trung tâm tỉnh , một bất thường cho các tỉnh Nam Duyên Hải miền Trung nhưng cũng có nhiều mũi, vũng… phía Bắc tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Núi cao nhất tỉnh là núi Chùa ( Ngọc Chùa ) 1362 m, phía Bắc tỉnh ở ranh giới Quảng Nam và Quảng Ngãi, núi Đá Vách ( có tên này vì vách núi dựng thẳng đứng ? ) 1089m, phía Tây huyện Nghĩa Hành( Chợ Chùa ), núi Làng Râm 1070 m phía Nam huyện Ba Tơ ở gần ranh giới tỉnh Bình Định , núi Cao Muôn 851m…
Đất đai Quảng Ngãi gồm : đất cát biển – haplic arenosol gặp ở địa hình bằng, hình thành nhờ bồi lắng phù sa trong quá trinh lấn biển, đất còn vỏ sò-hến. Đất nghèo dinh dưỡng. Đôi khi nội đồng gặp một một lọai podzol nước ngầm – ground water gần mặt đất .Đất phù sa Quảng Ngãi thường là đất phù sa chua – acid – dystric fluvisols. Ở miền đồi núi là đất feralit -ferrallic acrisol vàng đỏ trên thềm cổ, lượn sóng nhiều vì xói mòn gọt rữa. Ven chân Trường Sơn có nhiều trảng ,truông. ( phần đất đai là chiếu theo Thái Công Tụng ).
Sông Ngòi
Sông lớn nhất của Quảng Ngãi là sông Trà Khúc ( còn gọi là Thạch Nham ), dài 120km, hai nhánh, nguồn Tây Bắc ở trên Măng Xin ,Trà Tây Nam trong phạm vi tỉnh Quảng Ngải, nguồn Tây Nam trên Cao Nguyên Kontum giữa thị trấn Măng Bút và núi Ngọc Tem. Sau huyện lỵ Sơn Hà một nhánh lớn là nhánh sông Ré nhập vào; sông Ré cũng chia ra hai nhánh phát nguyên ở Cao nguyên Kontum. Sông Trà Khúc chảy qua thị xã Quảng Ngãi rồi đổ ra biển ở của Cổ Lủy. Sông Trà Bồng chảy trong huyện Trà Bồng ( tên cũ là Trà Xuân ) rồi đến huyện Bình Sơn ( Châu Ổ ), rồi ra cửa Sa Kỳ tại vũng Dung Quất. Ngòai khơi là đảo Cù lao Ré ( nay là huyện Đảo Lý Sơn ) và phía Bắc Lý Sơn là Cù Lao Bờ Bãi, nhỏ bé hơn nhiều. Lý Sơn cai quản luôn các đảo Hoàng Sa (?). Sông Vệ bắt nguồn từ phía Tây Nam huyện lỵ Ba Tơ, chảy theo hướng Tây Nam Đông Bắc, qua các huyện Minh Long , Nghĩa Hành ( Chợ Chùa ), Tư Nghĩa ( La Hà ) rồi đổ ra cửa Cổ Lủy, phía Đông Nam thị xã Quảng Ngãi.
Rừng
Năm 2001, đất lâm nghiệp rừng Quảng Ngãi chỉ còn 146 000 ha , chưa đến 30% tổng diện tích tỉnh. Đa số là kiểu lọai rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới – tropical evergreen broad leaves forest. Rừng luôn luôn xanh có nhiều tầng, tầng cao là những lòai cây gỗ cẫm lai ( trắc ) Dalbergia cochinchinenis, giáng hương Pterocarpus pedatus , gụ Sindora cochinchinensis, lim Erythrophhloeum fordii … Mưa nhiều , nhiệt độ nóng cao ( 24- 250 ) nên cây cối rậm rạp, giây leo chằng chịt nhiều lòai phụ sinh trên cây, lá xanh quanh năm , chứa trên 100 loài thực vật mỗi một ha rừng. Dưới gốc cây là những bạnh to lớn như gốc vài lòai bằng lăng đại mộc Lagerstroema sp., trên thân có phong lan , tầm gửi , dây mây chằng chịt. Động vật phong phú với vượn, sóc, chim , trâu rừng, thỏ, khỉ, sóc , chim , voi , trâu rừng, thỏ… ( Thái Công Tụng 2005 ). Tuy nhiên rừng Quảng Ngãi cũng như Duyên Hải Nam Trung Bộ, trong thập niên 1990 đã bị khai thác quá mức và số lượng gỗ khai thác được giảm đi nhiều. Sản lượng gỗ khai thác vùng này đã giảm đi từ 280 000 m3 năm 1995 xuống 254 000 m3 năm 1999. Diện tích rừng còn bị giảm thêm vì nạn cháy rừng và chặt phá làm rẫy, củi, than hoa… Năm 2002, rừng bị chặt phá ở Quảng Ngãi lên đến 21000 ha , trong khi diện tích trồng lại rừng ở Quảng Ngãi ít khi lên quá 5- 6 000 ha một năm ( năm 1999 trồng lại được 4600 ha , năm 2000 chỉ trồng được 2400 ha, năm 2002 chỉ được 3300 ha) …
(Irvine, Nam Ca Li, ngày 12 tháng 3 năm 2012)
Phần II, sẽ tiếp theo, về lạm bàn phát triển Quảng Ngãi như lọc dầu Dung Quất, Thiên Đường quay phim Vina Universal Đức Phổ, Xưởng đóng Tàu Dung Quất, nhà máy bột giấy Bình Sơn, khu Nghĩ mát bải biển Mỹ Khê, huyện Sơn Tịnh v.v..
 
 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 230413 visitors (858214 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=