thnlscantho-3
  Nỗi lo ngại.....P1
 

3/5/2012


      THỊT, BẠN HAY THÙ

 

        Nguyễn Thượng Chánh, DVM

                     

 

Bs Thú y  Nguyễn Thượng Chánh, Canada 2002

(Cựu Thú y sĩ Cơ quan Kiểm tra Thực phẩm Canada,CFIA 1985-2008)

 

Vật dưỡng nhơn”, đó là câu tôi thường nghe Ông nội nói ngày xưa lúc tôi còn nhỏ.

Ngày nay, đối với các quốc giai đang phát triển, một bữa ăn có nhiều thịt là dấu hiệu của sự giàu sang và sự sung túc của gia đình. Giàu thì ăn thịt ăn cá, còn nghèo thì ăn rau ăn độn.

Trong thực tế từ vài thập niên qua, Tây phương đã thay đổi cái nhìn về thịt vì khoa học cho biết nó là đầu mối của nhiều vấn đề sức khỏe.

Người gõ có được cơ may làm việc trên 23 năm liền ngay trong tuyến đầu của ngành thịt tại Canada nên cũng nhìn thấy được phần nào mặt trái của nó …

 

***

 

 Thịt Đỏ hayThịt Trắng

Đối với các nhà dinh dưỡng cũng như theo quy định của Cơ Quan Kiểm Tra Thực Phẩm Canada CFIA, thì thịt được phân chia ra làm hai loại chánh căn cứ trên màu sắc của chúng:

-         Thịt đỏ (Red meat): thịt bò, thịt heo, thịt dê cừu, thịt ngựa, và đồ lòng như tim, gan, thận là ba món được chánh thức được cho phép sử dụng tại Canada. Còn những món phá lấu như bao tử, phổi, tử cung heo, ngầu pín...là những ngoại lệ chỉ dành cho các sắc dân ethnies. Bò con nuôi bằng sữa, thịt có màu trắng hơi hồng hồng nhưng cũng  được xếp vào nhóm thịt đỏ.

-         Thịt trắng (White meat): thịt gà, thịt vịt, thịt gà Tây, thịt ngỗng, v.v...(vịt hay bay nên thịt cần chứa nhiều myoglobin để giữ oxy giúp các cơ hoạt động, vì vậy phần thịt ức hay magret có màu đỏ xậm hơn thịt gà và gà Tây).

Duck and goose are poultry and considered "white" meat. Because they are birds of flight, however, the breast meat is darker than chicken and turkey breast. This is because more oxygen is needed by muscles doing work, and the oxygen is delivered to those muscles by the red cells in the blood. One of the proteins in meat, myoglobin, holds the oxygen in the muscle, and gives the meat a darker color. USDA

 

 

Gần đây vì lý do sức khỏe, dân chúng có khuynh hướng chuộng thịt trắng hơn thịt đỏ nên kỹ nghệ chăn nuôi heo tại Canada cũng đã quảng cáo rầm rộ lên là thịt heo cũng là một loại thịt trắng.

Xét về mặt dinh dưỡng thì thịt nào cũng đều bổ cả, nhưng vấn đề then chốt là từ vài chục năm nay có dư luận cho rằng ăn nhiều thịt đỏ không tốt cho sức khỏe. Các nhà dinh dưỡng cũng như các giới y tế của các quốc gia Âu Mỹ đều thường hay khuyên mọi người nên bớt ăn thịt, nhất là thịt đỏ (nhiều calories, nhiều mỡ và nhiều cholesterol) để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện của các bệnh về tim mạch cũng như của một vài loại cancer mà nhứt là cancer ruột già (colon cancer).
                      

 

Cancer ruột già

http://www.cancer.org/
docroot/NWS/content/NWS
_1_1x_Eating_Lots_of_Red
_Meat_Linked_to_Colon_
Cancer.asp

People who eat a lot of red meat or processed meats may be raising their risk for colon cancer. Although this link has been shown before, a new study by American Cancer Society researchers helps explain the relationship.

Eating large amounts of red or processed meat over a long period of time can indeed raise colorectal cancer risk. But the risks from such a diet are smaller than those from obesity and lack of exercise, both for colon cancer and for overall health.

Trước tình thế bất lợi nầy, kỹ nghệ thịt bò và thịt heo đã không ngừng gia tăng quảng cáo khuyến mãi cũng như tung ra những cuộc vận động hành lang lobbies rất nặng kí để mong giành lại thị trường thịt đang có nguy cơ càng ngày càng xuống dốc.

Ngộ độc thực phẩm do thịt bẩn

Ngộ độc thực phẩm từ thịt bẩn cũng là chuyện vẫn thường thấy xảy ra hằng ngày. Thịt có thể bị nhiễm phân tại nhà máy, nhiễm vi khuẩn Salmonella, E coli 0157:H7, Campylobacter jejuni, Listeria monocytogenes...

Vi khuẩn E.coli 0157:H7 là tác nhân của bệnh hamburger gây tiêu chảy có máu và suy thận vô cùng nguy hiểm đặc biệt là ở trẻ em.

Vấn đề hóa chất và tồn dư kháng sinh trong thịt

Trong chăn nuôi thuốc kháng sinh được dùng để trị bệnh và để phòng bệnh, nhưng công dụng chánh là để kích thích booster tăng trưởng (growth promoter) giúp cho con vật mau lớn, tăng trọng nhanh cũng như giúp cải thiện hệ số biến chuyển thức ăn (feed efficiency, feed conversion) hay số lượng thực phẩm cần thiết để tạo ra 1kg thịt.

Theo luật Kiểm Tra Thực Phẩm Canada, nhà chăn nuôi phải ngưng sử dụng thuốc kháng sinh một thời gian năm ba ngày trước khi gởi con vật đến lò sát sinh. Lý do là để thịt không có chứa các chất thuốc tồn dư. Thời gian ngưng thuốc (withdrawal period) dài hay ngắn tùy theo loại kháng sinh sử dụng.

Sự hiện diện của chất tồn dư kháng sinh (antibiotic residue) trong thịt có thể gây nguy hiểm cho người tiêu thụ. Chẳng hạn như Pénicilline có thể gây ra hiện tượng dị ứng.

Ăn thường xuyên thịt có kháng sinh có thể làm nẩy sinh ra tình trạng kháng kháng sinh (antibioresistance) đối với một vài loại vi khuẩn nào đó.

http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=117&nid=
103213

Thịt cũng có thể chứa các tồn dư của hóa chất, nông dược, thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ.

Thịt và hormones

Thịt bò cũng có thể chứa tồn dư hormones dùng để kích thích tăng trưởng ở các giống bò thịt.

Tại Canada, luật chỉ cho phép sử dụng hormones để cấy dưới da sau lỗ tai bò thịt (beef, bovin de boucherie) mà thôi. Đó là Estradiol, Progesterone, Testosterone, ZeranolAcetate de Trombolone. Hormones giúp chúng tăng trưởng nhanh, cho thịt mềm và ít mỡ.

Có dư luận nghĩ rằng hormones làm xáo trộn thời gian tiền dậy thì (prepuberty) ở trẻ em, và cũng có thể gây ra một vài loại cancer nữa? Bởi lý do nầy mà Liên Hiệp Âu Châu có một dạo đã cấm vận việc nhập cảng thịt bò Mỹ và Canada.

Để bảo vệ sức khỏe người tiêu thụ, Cục Kiểm Tra Thực Phẩm Canada (CFIA) vẫn thường xuyên đề ra những chương trình thử nghiệm chất tồn dư tại các nhà máy thịt.

Đại tài phiệt Monsanto ngoài chuyện độc quyền trong lãnh vực hạt giống đậu nành OGM và thuốc diệt cỏ Roundup họ còn là nhà sản xuất và phân phối hormone rbGH giúp làm tăng năng xuất bò sữa.

Tại Hoa Kỳ, bên cạnh vấn đề thịt bò nhiễm hormone, thì sữa bò cũng chẳng khá gì hơn. Trên 30% bò sữa cũng thường được tiêm hormone tăng trưởng recombinant bovine Growth Hormone (rbGH) gọi tắt là bovine somatotropin (rbST). Đây là một loại hormone được chuyển đổi gène (genetically engineered hormone) do Monsanto sản xuất ra và phân phối dưới tên thương mại là Posalic.

Hormone nầy giúp tăng năng suất sữa lên rất khả quan.Mặc dù bị chống đối dữ dội khắp nơi nhưng rbST vẫn được cơ quan FDA Hoa kỳ chấp thuận cho phép sử dụng như thường từ năm 1993.

Rất nhiều công trình khảo cứu giá trị trên thế giới đã cảnh giác dư luận về mối nguy hại có thể có của hormone rbST đối với sức khỏe chúng ta nhất là đối với trẻ em.
    Ngoài Hoa kỳ ra, các quốc gia sau đây cũng được thấy có áp dụng phương pháp tiêm hormone rbST cho bò sữa: Nam Phi, Đại Hàn, Costa Rica, Ai Cập, United Arab Emirates, Honduras, Do Thái, Kenya, Namibia, Peru, Nga, Slovakia, Zimbabwe…

Chỉ có Canada và các quốc gia thuộc khối Liên hiệp Âu châu thì tuyệt đối không cho phép sử dụng hormone rbST trong kỹ nghệ sữa của xứ họ.

Xin tri ân bác sĩ thú y Chopra can đảm dám đương đầu với thượng cấp Health Canada, và tài phiệt Monsanto trong vấn đề từ chối việc áp pru hormone rbST tại Canada.

Giới thiệu tác phẩm:Tham nhũng tận xương tủy (Corrupt to the Core, Shiv Chopra)

http://vietbao.com/D_1-2_2-282_4-179145/
                    

 

 

Xáo trộn dậy thì do hormone từ thịt bò hoặc từ sữa bò

 

Hằng ngày, những quầy thịt nào làm từ thú ốm yếu,có vẻ bệnh hoạn, bị nghi ngờ, có dấu bị chích thuốc nơi cổ hay mông đều bị giữ lại tại lò sát sanh để làm test kiểm tra sự hiện diện của thuốc kháng sinh (test làm trên quả thận). Nếu kết quả dương tính thì bắt buộc phải hủy bỏ quầy thịt.



Thịt xạ chiếu
                    

Thịt xạ chiếu (irradiated meat)

 

Vấn đề xạ chiếu (irradiation) thịt cũng làm nhiều người e ngại.

Đây là phương pháp dùng tia phóng xạ Cobalt 60 để chiếu vào thịt nhằm diệt vi khuẩn, và giúp giữ thịt lâu bị hư hoại.

Phương pháp nầy đã được cho phép sử dụng trên thịt bò và thịt gà tại Hoa Kỳ, nhưng riêng Canada thì còn do dự vì sợ phản ứng bất lợi của giới tiêu thụ.

Mặc dù những lời trấn an của chính phủ và của các nhà khoa học, nhưng đa số người tiêu thụ vẫn còn nghi ngờ phương pháp quá mới mẻ nầy. Người ta tự hỏi là nếu dùng thường xuyên thịt có phóng xạ thì chuyện gì có thể sẽ xảy ra cho sức khỏe chúng ta 4-5 chục năm sau?

Trong thực tế, từ những năm 60, Hoa Kỳ và Canada đã cho áp dụng xạ chiếu thực phẩm rồi. Đó là việc xạ chiếu khoai Tây, củ hành (để ngăn chận sự nẩy mầm quá sớm), gia vị khô (để diệt trùng, trừ sâu bọ), bột mì (trừ mọt), v.v.

Ăn nhiều thịt sẽ không tốt cho sức khỏe

 

Khảo cứu của National Institute of Health và American Association of Retired Persons.

Năm 1995, National Institute of Heath (NIH) phối hợp với American Association of Retired Persons đã theo dõi sức khỏe của 500 000 người hưu trí, tuổi từ 50 đến 71 tuổi.  Có tất cả 71 000 đã qua đời trong thời gian 10 năm nghiên cứu.

Qua khảo cứu trên, những người ăn nhiều thịt đỏ có nguy cơ tử vong 30% cao hơn những người tiêu thụ ít thịt đỏ.

Đối với loại thịt biến chế (saucisse hong khói và bacon): những người tiêu thụ nhiều cho thấy có số tử vong 20 lần cao hơn những người ăn ít hai loại sản phẩm trên.

Nếu những người ăn nhiều thịt chịu thay đổi thói quen và giảm bớt việc tiêu thụ  thịt lại thì vấn đề bệnh tim mạch sẽ giảm đi một cách rõ rệt ở 11% đàn ông và 21% ở đàn bà.

Có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy một sự tiêu thụ quá nhiều thịt đỏ là nguyên nhân đưa dến cancer ruột colorectal.

Ngoài ra sự lạm dụng thịt đỏ và thịt biến chế cũng bị nghi ngờ làm sản sinh ra các loại cancer: phổi, thực quản,tụy tạng, tiền liệt tuyến, và cancer vú ở phụ nữ trong thời gian tiền mãn kinh.

Mỡ động vật (tổng số chất béo gras total, mỡ bão hòa saturated fat, hay  chất béo không bão hòa đơn thể monounsaturated fat) cũng là đầu mối gây cancer tụy tạng. Đây là một loại cancer hiếm thấy, thường đưa đến tử vong. Tuy nhiên, cũng có lối 5% bệnh nhân có thể sống trên 5  năm.

Trong khảo cứu nói trên, những người tiêu thụ quá nhiều mỡ dầu dễ có nguy cơ bị cancer tụy tạng (đàn ông 53% và đàn bà 23%) nhiều hơn so với nhóm người ăn ít mỡ dầu.

Không thấy có mối liên hệ nào được đề cập giữa cancer tụy tạng và chất béo không bão hòa đa thể (polyinsaturés) gốc thực vật.

Ngoài ra thuốc lá, tình trạng béo phì, và bệnh tiểu đường đều được xem là những yếu tố nguy cơ của cancer tụy tạng.

 

                       

 

 

 

 

 

Vấn đề chất N-nitroso

Salami chứa nhiều muối nitrate và nitrite.

Nitrates and nitrites are used widely in the meat industry to cure. They are usually mixed with meat binders and cure ingredients and are added to dry sausages, semi-dry sausages, preserved meat and preserved meat by-products such as ham and salami. They can be added in the form of sodium and potassium salts (ex: sodium nitrate, sodium nitrite, potassium nitrate and potassium nitrite)

Ts dinh dưỡng học Marie Josée Leblanc, Université de Montréal, cho biết cơ chế hình thành ung thư là sự tạo ra trong ruột chất N-nitroso.

Cùng với một số chất khác N-nitroso thúc đẩy ra  sự xuất hiện cancer. Một trong những chất khác là chất sắt trong máu dưới dạng heme. Đây là chất tạo ra màu đỏ của thịt.

Sắt heme rất dễ hấp thụ trong cơ thể và giúp vào việc tạo ra chất N-nitroso, ngược với chất sắt gốc thực vật gọi là non heme (fer non hémique).

Ngoài ra cũng phải kể đến sự hiện diện của nitrite, một chất phụ gia được trộn thêm trong thịt biến chế, hoặc các chất nitrate có trong nước, hay trong một vài loại rau quả. Tất cả đều cần thiết để tạo ra N-nitroso.

Một số vi khuẩn nằm sẵn trong ruột cũng dự phần vào trong việc sản xuất ra N-nitroso.

 

Xem tiếp phần 2

 

 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 243648 visitors (902464 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=