thnlscantho-3
  Một số bệnh ở vịt
 
15/7/2012

                       
MỘT SỐ BỆNH CHÍNH Ở VỊT
 
                           K/S Đặng Hòang Minh
 
 
     Sự thành công ở người chăn nuôi vịt là phải quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị một số bệnh chính ở vịt.
              
                            
 
I. BỆNH E.Coli
 
     1. Đặc điểm của bệnh
     - Vi khuẩn E.coli gây bệnh trên vịt chủ yếu do 2 chủng E.coli 02 và E.coli 078.. Mổi một chủng E.coli khác nhau sẽ gây bệnh và thể hiện những triệu chứng và bệnh tích khác nhau.
     - Bệnh thường gặp ở vịt con từ 3 – 15 ngày tuổi, nhất là ở những đàn vịt tập cho ăn mồi sớm.
          - Vi khuẩn E .coli xâm nhập vào cơ thể vịt qua thức ăn, nước uống, ngay trong đường ruột vịt đã có sẳn vi khuẩn khi điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng kém, chuồng trại kém vệ sinh, thời tiết thay đồi làm cho vịt yếu, vi khuẩn E .coli sẽ phát triển nhanh và gây bệnh.
     - Vi khuẩn E.coli xâm nhập qua vết thương ở đường hô hấp, tiêu hóa và có thể đi thẳng vào máu, gây bại huyết làm cho vịt chết đột ngột mà chưa biểu hiện bệnh tích.
         2. Triệu chứng cơ bản
        - Vịt rút cổ, xù lông, lim dim mắt.
        - Tiêu chảy phân trắng loãng, hậu môn dính phân; trước khi chết còn có chiệu chứng co giật, ngoẹo cổ.
     - Vịt từ 1- 18 tuần tuổi có triệu chứng chết đột ngột với trạng thái thần kinh quay quay đầu, tỉ lệ chết 5-15%.
     - Ở vịt đẻ có triệu chứng bại liệt do viêm khớp.
     - Trứng đẻ ra có vết máu và phôi thường bị chết ( trứng sát).
         3. Bệnh tích
     - Màng bao tim bị viêm trắng, đôi khi viêm dính vào cơ tim.
     - Trên cơ tim có điểm xuất huyết lấm tấm.
           - Gan sưng xuất huyết, chấm đỏ.
      - Lách sưng có đốm trắng hoặc đỏ.
           - Túi khí co những ô viêm nhỏ màu vàng đục nằm rãi rác.
           - Niêm mạc ruột sưng đỏ, chứa phân trắng lợn cợn.
      - Ống dẩ trứng viêm có dịch nhày trắng.
4. Phòng bệnh
- Chuồng trại khô, sạch, ấm, thoáng và sát trùng thường xuyên.
- Vịt con trên 7 ngày mới tập ăn mồi.
- Trộn một số loại kháng sinh cho vịt ăn hoăc uống từ 3 đến 5 ngày liên tục sau khi mua về và lập lai sau 7 ngày. Sử dụng một số thuốc như Ampi-coli; Flucomutin; Bio Anti-Ecoli… Nên kèm theo thuốc bồi dưỡng vitamine, Bcomplex, Bio-Electrolytes, men tiêu hóa.
- Khi điền trị theo hướng dẫn trên nhản thuốc và nhà sản xuất.
 
II. BỆNH PHÓ THƯƠNG HÀN
Bệnh phó thương hàn (Samoellosis) là bệnh truyền nhiễm cấp tính hoặc mãn tính ở vịt con thường ở 1-15 ngày tuổi. Vịt bị bệnh thì tiêu chảy, viêm kết mạc, gầy sút, chết 70-80% ở vịt con. Bệnh có cả ở gà, ngan, ngỗng. ăn thịt vịt Samonella nấu chưa chín sẽ lây bệnh cho cả người.
1. Đặc điểm bệnh
- Bênh thường xảy ra ở vịt con giai đoạn 3 đến 15 ngày tuổi cả vịt lớn và vịt đẻ (vịt lớn 45 ngày tuổi trở lên thường bị thể mạn tính).
- Vịt đẻ nhiễm bệnh, vi khuẩn nhiểm vào trong trứng, nên khi ấp thường chết phôi, vịt con nở ra có thể mắc bệnh ở thể ẩn tính hoặc cấp tính.
 - Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua thức ăn, nước uống và điều kiện ngoại cảnh bất lợi làm cho vit yếu và bệnh phát ra.
 - Đường truyền bệnh quan trọng nhất là trực tiếp qua trứng. Loại vi khuẩn Samonella này có lông roi, có thể di động và xuyên qua vỏ trứng khi để trứng ở ổ đẻ có nhiễm khuẩn.
 - Trong chất độn chuồng, vi khuẩn này tồn tại khá dài ở những ổ nhiễm bệnh đến 30 tuần, trong phân đến 28 tuần, trong nhà kho, trạm ấp có thể tới 5 năm, ngay cả vỏ trứng trong máy ấp cũng tồn lưu 3-4 tuần.
2. Triệu chứng cơ bản
 
- Vịt ủ rũ, mắt bị nhem, xệ cánh, ít vận động.
- Tiêu chảy phân loãng xanh lá cây, lẩn bọt khí.
- Một số con bị bại chân, viêm phổi thở khò khè.
Đặc biệt là vịt bệnh trước khi chết nằm ngửa, chân co giật trên không, cho nên người chăn nuôi gọi là bệnh "co giật" của vịt. Bệnh kéo dài 3-4 ngày, chết đến trên 70%.
3. Bệnh tích
- Gan sưng, rìa gan dầy lên, trên màng gan có Fibrin (sinh sợi huyết), lấm tấm những nốt vàng trắng.
- Túi mật sưng căng, niêm mạc dạ dày tuyến (cuống mề) sưng, phủ lớp chất nhầy.
- Ruột sưng, lòng ruột non chứa dịch đục, xuất huyết, đôi khi bị loét.
- Có trường hợp viêm đầu gối, viêm túi khí, viêm màng tim.
- Vịt đẻ thường ở thể mãn tính, xác gầy ốm, buồng trứng xuất huyết đỏ , trứng non biến dạng.
- Bệnh tích điển hình nhất là ở manh tràng có chứa bả đậu và nhiều khi trực tràng sưng có đốm. Vịt con không hấp thụ hết lòng đỏ, màu nhợt nhạt.
4. Phòng và trị bệnh
- Chuồng trại khô, sach, ấm, thoáng, sát trùng định kỳ thường xuyên.
- Vịt con trên 7 ngày mới tập cho ăn mồi.
- Trộn một số loại kháng sinh cho vịt ăn hoặc uống từ 3 đến 5 ngày liên tục sau khi mua về và lập lai sau 7 ngày. Các thuốc kháng sinh dùng phòng và trị bênh như Bio neo-colistin; Flucomutin; Vimenro…
- Nên kèm theo thuốc bồi dưỡng vitamine, Bcomplex, Electrolyte, men tiêu hóa.
 
III. BỆNH VIÊM XOANG MŨI TRUYỀN NHIỄM
 
1.                                   Đặc điểm bệnh
- Bệnh thường xảy ra ở vịt con từ 4 đến 20 ngày tuổi, bệnh thường không gây chết và kéo dài rất lâu, nếu điều trị không dứt điểm.      
- Do Mycoplasma gây bênh và Staphylococus, Streptococus kế phát.
     - Bệnh gây tổn thương chủ yếu ở đường hô hấp và làm cho vịt con ăn, uống khó khăn, còi cọc dần và kế phát một số bệnh khác như dịch tả, tụ huyết trùng…
- Chuồng trại ẩm ướt, thời tiết lạnh và nuôi dưỡng kém là điều kiện dễ dành cho vịt bị bệnh viêm xoang.
- Mầm bệnh bài thải liên tục ra môi trường bên ngoài qua nguồn nước, thức ăn … làm mầm bệnh lây lan nhanh, ngăn chận khó khăn.
- Xoang mũi bị viêm tạo thành những ổ mủ trắng đục làm tắt đường hô hấp hai bên hốc mũi.
2.                                   Triệu chứng cơ bản
- Đầu tiên phát hiện trong đàn vịt có vài con kêu khẹt khẹt, tăng dần lên theo thời gian bênh sau đó hai bên mũi chảy dich nhờn nước trong, sau trắng đục và hai bên mũi nổi hai cục mềm tròn.
- Vịt bệnh khó thở thường vươn đầu, há miệng ra để thở.
- Có nhiều con mắt bi viêm đỏ, nhem mắt, mù mắt.
- Trường hợp ghép thêm những mầm bệnh khác, vịt thường sốt cao, bỏ ăn, đôi khi co giật và chết.
3.                                   Bệnh tich
- Niêm mạc mũi, hốc mũi xung huyết đỏ, chứa dịch viêm.
- Phổi bị viêm, thủy thủng (tích nước).
- Viêm gan có sợi huyết
4.                                   Phòng bệnh
- Chuồng trại sạch, khô, thoáng, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, là điều cần quan tâm vì chưa có loại vaccin nào hữu hiệu để phòng bệnh nầy.
- Sử dụng một số loại kháng sinh như Tia complex; Terramycine; Bio-Tylanfor… Trộn cho ăn hoặc uống liên tục 3-5 ngày từ khi mua vịt con.
5.Trị bệnh
Sử dụng một số loai kháng sinh như phòng bệnh ở trên nhưng với liều điều trị gấp đôi liều phòng.
 
IV. BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG
 
1. Đặc điểm nhiểm bệnh
Bệnh tụ huyết trùng là một bệnh truyền nhiễm ở gia cầm và chim hoang dã do vi khuẩn Pasteurella Multocida gây ra với đặc điểm chung là xuất huyết các nội tạng và tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết đều rất cao.
Bệnh được phát hiện lần đầu ở Pháp do Charbert(1782). Năm 1836 Mailet đã nghiên cứu, mô tả bệnh ở gia cầm và đặt tên là “Fowl Cholera” (dịch tả gia cầm). Pasteur (1880) đã phân lập được vi khuẩn tụ huyết trùng, (P.multocida) nghiên cứu các đặc tính sinh học của vi khuẩn , giảm độc vi khuẩn và tạo ra được chủng vi khuẩn nhược độc, sau được dùng chế tạo vaccin phòng bệnh đầu tiên.
Đến nay, bệnh tụ tuyết trùng gia cầm đã được phát hiện ở hầu hết các nước trên thế giới. Ở Việt Nam bệnh đã thấy ở tất cả các tỉnh. Được xem như một trong các bệnh truyền nhiễm gây nhiều thiệt hại nhất. Các ổ dịch tụ huyết trùng vẩn xảy ra rải rác quanh năm trong đàn gia cầm ở khắp các tỉnh , tập trung vào các tháng nóng ẩm từ mùa hè sang mùa thu, gây thiệt hại kinh tế chăn nuôi gia cầm.
Bệnh thường xảy ra ở giai đoạn 15 ngày tuổi trở đi, khi vịt chuyển đổi khẩu phần ăn, chuyển đồng, thay lông.
Khí hậu lạnh, mưa nhiều, ẩm vịt dể bị bệnh.
Vịt bị chết nhanh, đột ngột, tỉ lệ chết cao 50-60%.
2. Dịch tể học
- Động vật cảm nhiễm: gà, gà tây, ngỗng, vịt  và nhiều loài chim hoang dã đều rất mẩn cảm với vi khuẩn P.multocida. Gai cầm các lứa tuổi đều cảm nhiễm vi khuẩn, phát bệnh và chết với tỷ lệ khác nhau, tùy thuộc độc lực của chủng vi khuẩn và số lượng vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể.
Ở Việt Nam trong khoảng thời gian 2000 – 2001 vịt, ngan, ngỗng vẩn thường xảy ra dịch tụ huyết trùng vào mùa hè ở đồng bằng sông Hòng làm chết 70-80% số gia cầm bị bệnh trong ổ dịch.
-  Đường truyền lây: gia cầm và chim hoang dã bị lây truyền mầm bệnh qua hai đường.
* Đường hô hấp: khi gia cầm khỏe hít thở không khí có mầm bệnh bám vào các hạt nước và hạt bụi sẽ bị nhiễm mầm bệnh và phát sinh bệnh.
* Đường tiêu hóa: Khi chim khỏe ăn thức ăn và uống nước có mầm bệnh cũng thường nhiễm bệnh và phát bệnh.
- Nguồn tàng trữ mầm bệnh trong tự nhiên:
Một số gia cầm bị bệnh, sau khi khỏi bệnh vẩn mang và thải vi khuẩn một thời gian. Nhiều loài chim hoang dã có sức đề kháng với bệnh, nhiễm vi khuẩn P.multocida, nhưng không có dấu hiệu lâm sàng  và trở thành nguốn tàng trữ mầm bệnh trong tự nhiên.
3. Triệu chứng và bệnh tích
* Triệu chứng
Thời gian ủ bệnh: các loài gia cầm có thời gian ủ bệnh giống nhau từ 6 giờ đến 3 ngày.
- Thể quá cấp tính: bệnh tiến triển rất nhanh, chỉ có thể quan sát thấy, gia cầm đứng ủ rũ một chổ, mào đỏ sẫm, rồi đột ngột có các triệu chứng như: đi lảo đảo, quay cuồng, kêu to, giãy giụa mạnh, rồi lăn ra chết.Vịt, vịt xiêm đang đi kiếm ăn bổng nhiên kêu to, đập cánh, giãy giụa và chết nổi ngay trên mặt nước. Tỷ lệ chết của gia cầm bệnh 100%.
- Thể cấp tính: đầu tiên gia cầm bệnh tăng nhiệt ( 45-46oC ), mào sưng thủng tím tái, mắt nhắm, diều căng to, đứng ủ rũ, hoặc nằm một chổ, chảy nước mắt và dịch mũi, đặc biệt thở rất khó khăn, khi thở phải há miệng và nghển cổ, sau đó bại chân, phân xám, nâu; vịt bị bệnh chết nhanh, thường xảy ra ở vịt tốt và chết nhiều về đêm. Vịt mái đang đẻ bị bệnh sẽ ngưng đẻ.
Bệnh tiến triển nhanh, chỉ sau 1-3 ngày, vịt bệnh sẽ chết trong tình trạng nhiễm trùng huyết, ngạt thở với tỷ lệ 80-100%..
- Thể mãn tính: một số ít gia cầm qua khỏi thể cấp tính bệnh sẽ diển ra thể mãn tính kéo dài. Cũng có thể gia cầm bị nhiễm chủng vi khuẩn có độc lực thấp nên bệnh diển ra thể mãn tính.Nếu không được điều trị cũng bị chết 100% do kiệt sức
 * Bệnh tích
- Da, thịt tím bầm
- Mỡ vành tim, màng treo ruột xung huyết, xuất huyết đỏ.
- Bao tim tich nước.
- Gan có những nốt lấm tấm màu trắng nằm rải rác.
- Phổi viêm, xuất huyết, tụ huyết bầm đen.
4. Phòng bệnh
* Phòng bệnh bằng tiêm vaccin : chích ngừa cho vịt lúc 25-30 ngày tuổi bằng 1 trong 2 loại vaccin tụ huyết trùng dạng keo phèn và dạng nhũ hóa 1/2cc cho một con, chích dưới da cổ hoặc ức. Tuy nhiên hiệu quả của vaccin không cao.
Vịt đẻ chích trước khi đẻ 20 ngày và lập lại sau 3 tháng, mỗi con 1cc.
* Phòng bệnh bằng biện pháp vệ sinh thú y
Thực hiện chuồng trại nuôi vịt, luôn quét dọn khô sạch, thông thoáng mùa hè và kín ấm mùa đông, phun thuốc sát trùng theo định kỳ tuần/1 lần.
Phát hiện sớm vịt bị bệnh, cách ly và đìều trị kịp thời, khi một ô chuồng có vịt bệnh thì cần điều trị cả ô chuồng.
Ô chuồng có vịt bị bệnh, cần tẩy uế, phun thuốc sát trùng, để trống chuồng từ 2-4 tuần mới nuôi trở lại.
Khi nhập gia cầm mới cần nuôi ở chuồng tân đáo sau 2 tuần, vịt vẩn khỏe mạnh, tiêm các loại vaccin phòng các bệnh truyền nhiễm mới cho nhập đàn.    
* Phòng bệnh bằng kháng sinh  
Có thể trộn một số loại kháng sinh như Flucomycin; Bio-oxytetracol; Gentadisultrim...
5.                                   Trị bệnh
Có thể dùng một số loại kháng sinh sau để chích cho vịt liên tục từ 2-3 ngày như Enrofloxacin 50; Bio genta-tylosin; Genta-Spira Gentamycine + Spiramycine)…
Để ngăn ngừa bệnh tái phát nên chuyển đổi chổ nuôi, trộn thêm các loại thuốc kháng sinh đã có, nêu ở phần phòng bệnh từ 2-3 ngày liên tục; cũng như bổ sung thêm VitamineC, Vitamine Bcomplex, Bio-sol-B .complex cho vịt ăn hoặc uống.
                
                                                                      (còn tiếp)
 
 
                                               
                 
              
 
 
 
 
 
    
 
 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 239994 visitors (888384 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=