thnlscantho-3
  Lao Cai - P1
 
06/5/2012




Hiểu biết thêm tỉnh nghèo nhất, nhiều tộc dân sống hài hòa cùng nhau, trên hai vùng: thung lũng cao và rặng núi có đỉnh cao nhất nước, nơi duy nhất có tuyết rơi ở Việt Nam… :

 

 

Lạm bàn phát triển tỉnh Lào Cai

 

G S Tôn Thất Trình

 

 

Tuyết xuống nơi nào lạnh lắm không ?

Mà đây  lòng trắng một mùa đông

 

       ( “Đời vắng em rồi, say với ai ?: Vũ Hòang Chương, nhưng ở đây hướng về tuyết Sapa, thay vì Paris !) 

 

Phần I : Tổng Quát

 

          Vị trí và lảnh thổ

 

Ai mang tôi đến chốn này,

Bên kia Cốc Lếu bên này Lào Cai.

 

          Lào Cai là một tỉnh vùng núi vùng Đông Bắc Việt Nam.  Bắc giáp Trung Quốc với 103km đất liền và 110 km sông suối.Nam giáp tỉnh Yên Bái. Đông giáp tỉnh Hà Giang. Tây và Tây Nam giáp các tỉnh Lai Châu, Sơn La.  Diện tích tòan tỉnh là 6 383,9 km2 ( 2 464 dặm Anh vuông ).  Nằm ở  vĩ tuyến Băc  220 20’N và kinh tuyến Đông 10400’E.  Dân số năm 2008 là  602 300 người , và năm 2011 có lẽ đã đến trên 630 000 người.

         Thời Pháp thuộc, người Pháp viết tên của Lào Cai là Lào Kay. Nhưng đến tháng 11, năm 1950  tên Lào Cai đã được gọi chánh thức khắp nơi. Nguồn gốc tên Lào Cai cũng không rỏ rệt và có nhiều giải thích. Khu vực phường Cốc Lếu là một  huyện thương mãi phát triển thành một thị trấn – chợ, thị trường. Cho nên được gọi là Lão Nhai, có nghĩa là Phố Cũ , thị trấn cũ.  Sau đó thị trấn chợ phát triển thêm và được gọi là Tân Nhai hay Phố Mới, thị trấn mới . “ Lão” hay “Lạo” là tên một tộc dân , nên “ Lão Nhai” có nghĩa là thị trấn của “ Lão /Lạo”.  Từ Lào Cai  nguồn gốc của “Lao Kàu”  xuất hiện năm 1872, nguyên là tên  một chiếc tàu của Đồ Phổ Nghĩa- Jean Dupuis , một kẻ đã  thám hiểm bằng tàu  ở mạn ngược sông Hồng.  Theo học giả Đào Duy Anh,  Lào Cai phát nguồn từ từ Lão Nhai. Khi lập đồ bản, Pháp viết là “ Lào Kay “  và từ này xuất hiện trong nhiều tài liệu.  Tộc dân Việt đọc trại ra là Lào Cai và từ này lưu  truyền đến bây giờ.

          Lào Cai nằm trên trục kinh tế Sông Hồng, có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt ( xe lữa ), đường sông  nối liền của khẩu quốc tế Lào Cai ( cũng là tỉnh lỵ tỉnh Lào Cai, bên kia biên giới là thị trấn Hà Khẩu- Hekou thuộc tỉnh Vân Nam – Yunnan , Trung Quốc ) và  các cửa khẩu quốc gia Mường Khương, Bát Xát. Hà Nội cách Lào Cai 335 km  đường bộ, trước theo đường  quốc lộ số 2  qua Việt Trì đến  Đoan Hùng, rẽ trái qua Yên Bái rồi theo quốc lộ 4D đến Lào Cai.  Hay đi xe lữa, mỗi ngày nhiều chuyến. Chỉ có một chuyến ngày, khởi hành  lúc 6 giờ sáng, chạy rất chậm vì tàu phải đổ lại nhiều ga dọc đường. Các chuyến tàu đêm tiện  nghi hơn, khởi hành lúc 21- đếm 23 giờ đêm và đến ga Lào Cai   sáng sớm hôm sau.  Hà Nội cũng cách thị xã Điện Biên Phủ  200 km  đường bộ và đây cũng là cách duy nhất đến Sapa và Lào Cai từ Điện Biên Phủ qua Lai Châu và Phong Thổ( Tam Đường ). Du khách  hay đáp phi cơ từ Hà Nội đến Điện Biên Phủ rồi  tham quan du lịch bằng đường bộ . Lào Cai cách thành phố  Côn Minh - Kunming , thủ phủ  ở trung tâm tỉnh Vân Nam,  500km. Hành khách  dùng đường bộ từ Côn Minh đến Hà Khẩu rồi vượt qua biên giới ở Lào Cai, mất chừng 9- 10 giờ bằng xe búyt.  Hay từ Côn Minh đến Hà Khẩu bằng xe lữa, hai chuyến mỗi ngày. Thủ tục quá quan vào Lào Cai  rất mau lẹ, chỉ mất độ 5 phút là xong.    

  

          Phân chia hành chánh

        

         Thời xưa, Lào Cai là  một căn cứ  lịch sử trao đổi hàng hóa, buôn bán. Tộc dân  Hoa (Tàu ), tộc dân Việt và các tộc dân thiểu số khác  trong vùng đã  chiến đấu cố kiểm sóat vùng. Năm  1463, các vua Việt  lấy Lào Cai làm thủ phủ  vùng xa nhất về phía Bắc đất nước, rồi gọi tên là Hưng Hóa. Pháp chiếm làm thuộc địa năm 1889, và đóng đồn quân sự ở thị trấn Lào Cai.  Pháp lập tỉnh  Lào Cai năm 1907, gồm  châu Thủy Vĩ và châu Bảo Thắng. Từ đó cho đến năm 1945, Lào Cai là một trong 23 tỉnh thuộc Bắc Kỳ.  Tháng 12 năm 1975, Lào Cai sáp nhập  cùng Yên Bái, Nghĩa Lộ  thành tỉnh Hòang Liên Sơn. Ngày 12-8- 1991, Quốc hội Việt Nam khóa VII phê chuẩn việc chia tỉnh Hòang Liên Sơn thành 2 tỉnh lấy tên là Yên Bái và Lào Cai.  Tỉnh Lào Cai được tái lập gồm  9 đơn vị hành chánh là thị xã Lào Cai  và 8 huyện : thị xã Lào Cai 5 phường , Bát Xát (huyện lỵ là Bát xát) , Sa Pa ( huyện lỵ là Sa Pa), Mường Khương ( huyện lỵ là Mường Khương và 1 thị trấn là Lào Ca ), Bắc Hà ( huyện lỵ là Bắc Hà), Bảo Thắng ( huyện lỵ là Phố Lu, 2 thị trấn khác : Phong Hải và và Tằng Lỏong ), Bảo Yên( huyện lỵ là Phố Ràng ), Văn Bàn (  huyện lỵ là Khánh Yên ), Than Uyên ( huyện lỵ là Than Uyên, 1 thị trấn là Khau Cọ ) .  Ngày 20-6 – 1992 lập lại thị xã Cam Đường 4 phường. Ngày 18-8 – 2000 tách huyện  Bắc Hà thành  2 huyện là Bắc Hà và Si Ma Cai ( huyện lỵ là Sima Cai, chưa có thị trấn ). Thành phố thị xã  Lào Cai,  năm 2003,  đã có 84 192 người, năm 2008 là 96 000, năm 2012 có lẽ đã trên 100 000 người. Đáng tiếc là năm 1979, Đặng tiểu Bình xua 60 000 quân ( có người nói là 300 000) đánh chiếm các tỉnh biên giới miền Bắc từ Phong Thổ ( còn gọi là Paso, Tam Đường)  miền Tây Bắc  đến Cao Bằng và Lạng Sơn miền Đông Bắc, để  “ dạy Việt Nam một bài học”, đã giám đánh trả đủa Khmer Đỏ Pol Pot Trung Quốc hổ trợ, đang đánh phá Việt Nam, đe dọa biên giới từ Tây Ninh xuống đến Hà Tiên. Quân đội Nhân dân Trung Quốc lúc đó không chuẩn bị sẳn sàng cho một  chiến trường lớn, lại phân chia lực lượng tấn công nhiều mặt, nên chỉ trong vòng 2 tuần lễ  tấn công Tàu sụp đổ, khi bị  quân Việt phản công, khiến  20 000 quân Tàu bị giết chết  và bắt buộc quân Tàu phải rút lui, tuy Trung Quốc vẫn huênh hoang là đã thắng trận ( Ó Dowd, và Edward C., 2007    Chinese Military Strategy in The Third  Indochina War : the last Maoist  war”). Mà thật ra Việt Nam đã thắng trận quyết định ở  khắp nơi ( Boobbyer, Claire – 2008  Foot Print in Việt Nam ).  Quân đội Tàu đã phá tan tành thị xã Lào Cai , cách Hà Nội trên 295 km, có đường sắt, đường bộ, đường sông tốt đẹp  để Tàu  xua quân đe dọa Hà Nội và đồng bằng sông Hồng, ngăn chặn quân phòng thủ Việt Nam  di chuyễn bảo  vệ Lào Cai. Khi rút lui, Tàu phá hủy Lào Cai cũng như nhiều thành phố, thị trấn khác miền Bắc và đặt nhiều mìn trong vùng . Hiện vẫn còn nhiều mìn sót lại  chưa nổ, đe dọa dân  chúng khai khẩn làm ăn, đặc biệt dọc theo biên giới hai nước. Lào Cai phải đóng cửa nhiều năm đến năm 1993 mới mở cửa lại. Nhưng nay đã thịnh vượng trở lại, buôn bán sầm uất với Trung Quốc, một  thành phố có nhiều tỉ phú ( đồng VN ) và là một trung tâm du lịch  chánh giữa Hà Nội, Sa Pa và Côn Minh.

 

      Thành phần các tộc dân và sắc thái văn hóa độc đáo Lào Cai
                                                

 

  Lào Cai có 25 tộc dân. Các tộc dân ít người chiếm  trên 64 % tổng số dân tỉnh. Từ năm  1999, tộc dân đông nhất là Kinh ( Việt ) vì từ năm 1960, chánh quyền miền Bắc  đã thiết lập chánh sách đưa cán bộ đảng Cọng Sản người Kinh từ  các vùng thấp lên các vùng cao, thường do các tộc dân ít người sinh sống.  Năm 2008 , tộc dân Kinh chiếm 35.9 % dân tỉnh nhà.  Thứ đến là tộc dân Hmong ( Mèo , Miêu ) 22.21% , Tày 15,84%, Dao 15.05%, Giáy 4.7 % , Nùng 4.4%.  Các tộc dân khác trong tỉnh là Phù Lá, Sán Chay,  Hà Nhì và La  Chí… Trên phương diện xây dựng và phát triễn kinh tế xã hội , Lào Cai  đã đạt nhiều thành tích đáng kể . Các tộc dân  tỉnh nhà  đã tạo ra một bản sắc độc đáo  về văn hóa , mang đậm  sắc thái Lào Cai.  Văn hóa, văn nghệ  quần chúng rất đa dạng  như truyện cỗ, thơ ca,  tục ngữ. Chẳng hạn người Tày  có lối hát giao duyên  khá phổ biến với các làn điệu lượn, Phong Slư. Người Mường có hát xét bùa, hát bọ mẹng , hát đồng dao , hát ru v.v… Người Dao thích múa. Người Thái có múa xòe, múa sạp, hát thơ… Người H’Mông thích thổi khèn, họ dùng khèn lá, đàn môi để trao đổi tâm tình.
                                              

 

        Địa hình , khóang sản

                                                 

Sa Pa

  

       Địa Hình

      Địa hình Lào Cai 3 hình dạng tổng quát khác nhau : núi cao , đồi thấp và thung lũng.  Trung bình độ cao Lào Cai là 1000m trên mặt biển.  Phân chia thành các bậc đai như bậc đai cao 200 – 500m  chiếm 28.1% diện tích, đai cao 501- 1000m chiếm 36.7% diện tích,  phần còn lại là các đai cao 1001- 2000m và trên  2000m. Lào Cai có dãy núi Hòang Liên Sơn chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam . Dãy núi này có các đỉnh sắc và nhọn răng cưa có khi có hình mũi kim như Phan Xi Păng ( tiếng Pháp là Fansipan )  cao 3143m (10 312 bộ Anh ) là đỉnh núi cao nhất Đông Dương,  Pu Luông 2985m….   Dãy Hòang Liên Sơn và Pu Luông , giữa Sông Hồng và Sông Đà,  độ cao trung bình các ngọn núi từ  1700 đến 2800m, chạy dài 150 Km  từ biên giới  tới tỉnh Yên Bái, nối dài núi và cao nguyên  tỉnh Vân Nam, phía Nam Trung Quốc . Nhiều núi non cao nên Lào Cai là miền Thượng Du miền Bắc, tuy rằng về hành chánh thuộc miền Đông Bắc bên  trái sông Hồng , nhưng cũng như Yên Bái, Lào Cai lại  có nhiều lảnh thổ  địa lý thuộc vùng Tây Bắc ( bên phải sông Hồng ). Dãy núi  cổ Con Voi giữa sông Chảy và sông Hồng, cao độ  400 – 1400m,  phần lớn thuộc Yên Bái,  cũng kéo dài tới Lào Cai. Lào Cai còn có các cao nguyên cacxtơ - karster Bắc Hà, Mường Khương.  Các núi Sa Pa  nằm về phía Tây tỉnh nhà. Phía Tây  dãy Hòang Liên Sơn là  cánh đồng Mường Than ( Than Uyên ) rộng 1600 ha.
                                                


Lao Chai_Ta Van

 

     Khoáng sản 

      Lào Cai là một tỉnh giàu khóang sản, khóang sản  kim lọai đen, kim lọai màu. Trên lảnh thổ nay đã phát hiện 150   mỏ hay điểm quặng thuộc 30 lọai khác nhau, vài lọai lớn nhất đất nước. Tập trung ở ba dãi, trùng hợp với  các hệ thống  đứt gãy sông Hồng, Sa Pa, Phăng xi Păng. Ở đới sông Hồng, chủ yếu là apatít, đồng, phóng xạ , đất hiếm, môlybđen, mica, cao lanh , đôlô mít,  đá hoa. Ở đới Sa Pa là môlybđen, quặng xạ, đất hiếm, cao lanh, đô lô mít, đá hoa. Ở đới Phăng xi Păng là các khóang sản và quặng xạ, đất hiếm, batít, fluorit, môlybđen, chì, kẻm, đá xây dựng, granoxienit, một vài điểm thạch cao. Ngòai ra còn có  biểu hiện vàng, thủy ngân  ở dạng các vạnh phân tán trọng sa tại Văn Bàn , Bát Xát… Apatít là lọai khóang sản duy nhất của đất nước có ở Lào Cai với trữ lượng  chỉ mới ở Cam Đường  đã lên đến 2.5 tỉ tấn , và chạy dài từ  dưới Bảo Hà lên qúa thị xã Lào Cai đến tận huyện lỵ Bát Xát. Mỏ sắt Quý Xa trữ lượng 124 triệu tấn. Mỏ đồng Sinh Quyền trữ lượng  53 triệu tấn, chiếm 70%  trữ lượng quặng đồng cả nước.  Mỏ graphít ở Nậm Thi trử lượng 15 triệu tấn.  Mỏ môlybđen  Ô Quy Hồ  trữ lượng  15 400 tấn … Các mỏ phần lớn lộ thiên, dễ khai thác .

 

      Tài nguyên thực vật- flora , động vật - fauna

 

    Rừng chiếm  2789 .07 km2 ( 1 733. 05 dặm Anh  vuông )  hay 278 907  ha , nghĩa là 43.87 %  diện tích cả tỉnh. Trong số này  229 297 ha  là rừng thiên nhiên và   phần còn lại là các đồn điền rừng trồng  lại. Rừng Lào Cai  đa dạng về thực vật nhiệt đới  ( hoa quả , thân gỗ , thân thảo – cỏ ) phong phú về số lượng lòai,  đã kiểm kê được 1195 lòai thuộc 550 tông chi và 154 họ thực vật bậc cao . Rừng bảo tồn Lào Cai  nổi tiếng chứa nhiều danh mộc gỗ quý  như  pơ mu – Fokienia hodginsii, một lọai đại mộc họ  Tùng bách  - Cupressaceae , lát hoa - Chukrasia tabularis, một đại mộc họ Xoan -Meliaceae,   chò chỉ- Hopea recopei , một đại mộc họ Dầu - Dipterocarpaceae , giổi đá- Mangletia  insignis , môt đại mộc họ Dạ Hợp -Magnoliaceae    nhiều cây dược liệu. Ở các dãy núi Phăn Xi Păng  thực vật thay đổi  theo cao độ   cao độ trên  1500m  ( 4000 bộ ) thường  còn lại rừng . Trên cao độ 2500 – 2800m  là vùng sương mù, rừng kiểu Elfin là nhóm thực vật chủ trì  cây mộc có bướu – gnarled trees,  lọai cây thiết sam- Tsuga  yunnanensis họ Thông - Pinaceae  cao không qúa 8m ( 26 bộ Anh )  phủ đầy rêu. Trên 2800m ( 9200 bộ ) kích thước cây còn nhỏ hơn nữa , thường là các lọai tre nứa và đổ quyên- rhododendrons.  Công viên Hòang Liên Sơn chỉ còn rộng 12 km2 là một rừng sống sót dưới áp lực con người  tàn phá nhiều thế kỷ qua. Cỏ hòa bản, lùm bụi và cây nhỏ bé  mọc đầy đất đai, không còn có thể gọi là rừng nữa và nhiều  khu vực đã được khai phá trồng trọt  đặc biệt là gừng.

    Theo một nghiên cứu  của nhà sinh học Pháp Delacour  tháp tùng tổng thống Theodore Roosevelt tham quan vùng Đông Nam Á năm 1929, các động vật có vú – mammals  kiểm kê ở vùng này là  báo mây – clouded leopard  Neofilis nebuiosa ,  báo - leopard Pantherus pardus , cọp, hổ - tiger Panthera  tigris,  cầy mực -binturong   Arctictus binturong ,  vượn đen - black gibbon Hylobatus  concolor , khỉ  cụt  đuôi - stump tailed macaque Macaca arctoides  và gấu đen Á Châu

Gấu đen Á Châu-Asiatic black beear Selenarctos thibetanus

     Ở rừng Sa Pa  đã liệt kê 150  lòai chim như cù rốc  xẽ đỏ -Red vented Barbet  Megalaima lagrandieri, sẽ mỏ vòng cổ - Collared Finchbill Spizixo semitoroues ,  sáo cười hầu trắng -White throated Laughingthrush Garrulax algogularis  , chim hạt dẽ - Chestnut Bulbul  Hypsipetes castaotus. Tất cả các lòai chim vừa kể thảy đều là các lòai chim đặc biệt cho miền Bắc Việt Nam .

     Động vật Lào Cai đã kiểm kê được  442 lòai: 251 lòai chim thuộc 41 họ, 84 lòai thú thuộc 28 họ, 73 lòai bò sát thuộc 12 họ, 34 lòai ếch nhái thuộc 7 họ.

 

         Đất đai

    

   Đất đai Lào Cai   phân chia ra làm  10 nhóm chánh thuộc 30 lọai . Chủ yếu là:

-          nhóm đất phù sa  ven sông Eutric Fluvisols với 6 lọai đất hình thành  trên trầm tích trẻ, nguồn gốc phù sa sông suối,  dọc theo sông Hồng. Nhóm đất này có diện tích 10 530 ha , chiếm 1.47% diện tích tự nhiên tòan tỉnh.

-          nhóm đất  feralic  vàng đỏ  Feralic Acrisols gặp ở địa hình núi thấp, cao độ dưới 900m,  phong hóa từ nhiều lọai đá mẹ khác nhau, bề dày tầng đất thay đổi từ 0.60m đến1.20m, diện tích tổng cọng trên 365 000 ha, chiếm trên 45 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Nhiều vùng rộng lớn lọai đất này bị xói mòn, vì nạn đốt phá rừng.

-           nhóm đất mùn vàng đỏ  Humic Ferrasols, phân bố ở độ cao từ 900 m đến 1800m.  Diện tích trên 240 000 ha,  chiếm gần 39% diện tích tự nhiên tòan tỉnh. Mức phong hóa feralít ít hơn đất đỏ vàng. Phản ứng đất chua, độ no baz thấp, nhiều mùn vì ở cao độ.

-           Nhóm đất mùn alít  Humic alisols trên núi cao , cao độ từ 2000 m trở lên.  Đá phong hóa yếu, tầng đất mỏng,trên cùng là một thảm lá mục, lá lẫn rêu. Diện tích ở Lào Cai là  92 000 ha, chiếm trên 11,.5 % tổng diện tích tỉnh nhà, phần lớn ở  huyện Sa Pa.

-          Nhóm đất đen  carbonat Calcic Luvisols , hình thành trên sản phẩm phong hóa của đá vôi ở địa hình sườn dốc. Diện tích chỉ chừng  1050 ha, chiếm 0. 12 %  tổng diện tích tỉnh.

-          Đất mùn thô than bùn,  diện tích 530 ha. Ở Hòang Liên Sơn, từ 2800m trở lên.

-           Đất  đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa nước, diện tích 17500 ha, chiếm  2,2 % tổng diện tích tỉnh. Là đất làm ruộng bậc thang – terraced rice fields nổi tiếng, ở hai huyện Bắc Hà và Sa Pa.

-           Đất xói mòn trơ sỏi đá, diện tích  470 ha

-          Đất  lầy, có độ phì nhiêu cao, diện tích  260 ha.

-          Đất dốc tụ thứ sinh, phát triễn  trên các sản phẩm rửa trôi và tích tụ  của tất cả các lọai đất ở các chân sườn và khe dốc.                        

 

                  Khí hậu, Thủy văn.

       a)Khí hậu

Vì địa hình phức tạp nhất là nhiều núi cao, nên  Lào Cai có khí hậu đa dạng, phân hóa theo mùa và khác biệt giữa các vùng. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20 -230C ( 68 – 73 độ F ). Những vùng  cao  độ trên 700m có khí hậu á nhiệt đới pha ôn đới , nhiệt độ trung bình hàng năm từ 18- 280C( 64 độ đến 82 độ F ). Ở những thung lũng, nhiệt độ lên tới 300C . Riêng Sa Pa,  nhiệt độ có khi xuống dưới 00C( 32 độ F ), thậm chí có mưa tuyết.

 Lào Cai có lượng mưa thấp. Trung bình hàng năm khỏang 1400- 1500mm/ năm. Năm mưa nhiều có thể đạt 2700mm /năm .  Các vùng ít mưa nhất là Than Uyên, Sa Pa .

  Gió Lào Cai mang nhiều sắc thái địa phương. Đặc biệt ở Than Uyên có gió lốc mạnh, ở Sa Pa có gió Ô Quy Hồ . Những dãy núi cao  chạy theo hướng Tây Bắc Đông Nam tạo ra những bức tường thiên nhiên ngăn chặn gió bão. Vì thế  Lào Cai ít bão và ít bị ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc.

b) Thủy văn

Lào Cai có sông Hồng , sông Chảy, sông Nậm Mu, ngòi  Nhu…chảy qua . Sông Hồng  là sông lớn nhất tỉnh , bắt nguồn từ Vân Nam, chảy qua địa phận tỉnh với chiều dài 120km.  Sông Chảy chảy qua tỉnh với chiều dài 124 km. Sông Nậm Mu  122km. Ngòi Nhu 68km. Sông Hồng và sông Chảy có lưu vực rộng, lưu lượng nước lớn  và tốc độ dòng chảy cao.

Tiềm năng nước mặt  với dòng chảy mặt hàng năm khỏang 9.5 tỉ m3, phân bố không đều, phân hóa theo địa hình, theo mùa và phụ thuộc vào lớp phủ bề mặt đệm.  Lào Cai hiện chỉ mới sử dụng 2.25%  lượng nước đến. Vào mùa kiệt,  tiềm năng khai thác tối đa là 0.9 tỉ m3 nhưng cũng chỉ mới sử dụng 55 triệu m3 năm 2000.

Tiềm năng thủy điện các sông suối Lào Cai khỏang  1865 MW.  Đến năm 2000,  chỉ 58 có công trình thủy điện  nhỏ, tổng công xuất   2397 KW, 0.13 %  tiềm năng thủy điện tỉnh.

Trữ lượng tài nguyên nước ngầm Lào Cai khỏang  30 triệu m3/năm, tương đối đủ cho các đối tượng dùng, chất lượng nước tốt, ít bị ô nhiễm. Lào Cai có 4 nguồn nước khoáng, nước nóng . Đó là các nguồn nước sulfat, sulfat  bicarbonat, nước nóng silic, sulfua  hydrogen, nhiệt độ cao trên 400C, độ khóang thấp ( 0.92-2.89g/l )

 

Phần II:  lạm bàn phát triển tỉnh Lào Cai sẽ  tiếp theo.

 

 ( Irvine, Nam Ca li,  ngày 25 tháng tư năm 2012 )                               

 

  

 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 235007 visitors (876734 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=