thnlscantho-3
  Lợi thế mùa nước nổi..
 
24/8/2012

 
    KHAI THÁC, TẬN DỤNG LỢI THẾ
TRONG MÙA NƯỚC NỔI
   PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH ĐỒNG THÁP
                                                                               (tiếp theo)
 
                                                                                  K/S Đặng Hoàng Minh 
 
 
                                PHẦN III
 NỘI DUNG KHAI THÁC LỢI THẾ
MÙA NƯỚC NỔI
                ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP  
 
         
 
                Bản đồ cập ngập và thời gian ngập
 
 
 
I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN
1.Dự báo về khoa học công nghệ:
-         Về nông nghiệp:
Hệ thống công trình thủy lợi từng bước hoàn thiện đáp ứng yêu cầu sản xuất. Cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi sẽ chuyển đổi đáp ứng với yêu cầu của thị trường. Tiến bộ trong công nghệ sinh học sẽ tạo ra giống cây con có năng suất chất lượng cao.
Áp dụng tiến bộ công nghệ giống, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến lương thực, chế biến tủy sản, súc sản, thức ăn chăn nuôi … Trong những năm tới nông nghiệp của tỉnh sẽ là nông nghiệp hàng hóa mạnh trên cơ sở phát huy các tiềm năng và từng bước được công nghiệp hóa, áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ phát triển bền vững, có khả năng vượt lên cạnh tranh các tỉnh trong khu vực .  
- Về thủy sản:
Căn cứ vào “Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản” thì việc đổi mới khoa học công nghệ nuôi trồng được coi là then chốt quyết định sự thành công của việc gia tăng năng suất, sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế và môi trường của nghề nuôi.
Muốn vậy trước hết cần căn cứ vào đặc điểm sinh thái và tiềm năng của từng vùng địa lý, từng vùng mặt nước cụ thể để xác định các đối tượng nuôi, công nghệ nuôi và qui mô nuôi phù hợp bảo đảm được sự phát triển liên tục và bền vững. Vào những năm gần đây việc tiến hành một số thực nghiệm nuôi cá kết hợp với trồng lúa, nuôi tôm càng xanh ở vùng ngập sâu đã đạt được một số kết quả rất khả quan, mở ra triển vọng mới trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị đất canh tác.Trong mùa nước nổi hoàn toàn dựa vào thức ăn tự nhiên hoặc cá được cho ăn thêm như cám gạo, cá tạp vụn, cua đồng, ốc bươu vàng, rau muống … sẽ cho năng suất cao hơn.
Khả năng chế biến thức ăn nuôi thủy sản ngày càng đi vào chất lượng của từng đối tượng nuôi, phù hợp với thị hiếu và được người nuôi thủy sản sử dụng có hiệu quả. Công tác phòng chống dịch bệnh, giảm thất thoát sau thu hoạch sẽ tốt hơn. Các công nghệ chế biến, dịch vụ tiên tiến được triển khai và áp dụng. Các siêu thị mua bán thủy sản ngày càng mở rộng và phát triển. Công tác xuất khẩu thủy sản tại các cơ sở liên doanh ngay trong nước sẽ hiệu quả và phát triển để thu hút tiêu dùng ngoại tệ ngay tại Việt Nam.
2. Dự báo về phát triển nhân lực:                
Về dân số lao động nông nghiệp: Tỉnh Đồng tháp có nhiều biện pháp như tuyên truyền, vận động, tổ chức thực hiện tốt chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình và từng bước giảm được tỷ lệ sinh năm 2000 là 1,46%, năm 2005 là 1,33% và năm 2010 là 1,07%.Với tốc độ phát triển có kế hoạch, hộ lao đông nông nghiệp chiếm 70%, bình quân một hộ có 4,82 người, 2,47 lao động và một hộ nông nghiệp có 1,95 ha đất. Do vậy hộ nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong việc sử dụng nguồn nhân lực, mặt khác do công tác đẩy mạnh đào tạo và chuyển giao kỹ thuật trong xu thế phát triển hiện nay đã góp phần từng bước nâng cao trình độ lao động nông nghiệp, nên việc thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp nói riêng cũng như phát triển kinh tế xã hội nói chung sẽ đáp ứng đủ nguồn nhân lực .  
3. Dự báo về thị trường:
Nhu cầu về thủy sản trên phạm vi toàn cầu ngày càng tăng và thiên về hướng đòi hỏi chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẫm ngày càng nghiêm ngặt. Các nước Châu Á có sức mua cao không thua kém các nước phương tây nhưng không đòi hỏi quá khắt khe về qui cách, phảm chất, chất lượng, đồng thời tính đa dạng mặt hàng thì rộng rải hơn nhiều. Riêng thị trường thủy sản tiêu thụ nội địa, sản lượng thủy sản tăng bình quân 5,36% bình quân đầu người xấp xỉ 25 kg. Với nước ta dân số chủ yếu xuất thân từ nông dân việc sử dụng thực phẩm thủy sản làm nguồn cung cấp đạm động vật là chính thì con số đó hiện nay đang tăng dần với các mặt hàng chế biến sẳn, được phân phối tại các chợ, siêu thị và hệ thống đại lý tiêu thụ trên toàn quốc. thêm vào đó nhu cầu tiêu dùng của hàng triệu du khách nước ngoài vào Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng của những người có thu nhập cao … đòi hỏi lượng thủy sản cung cấp sẽ rất lớn.
Dự báo thế giới năm 2010 nhu cầu thủy sản toàn thế giới khoảng 156,7 triệu tấn, nhu cầu các sản phẩm thủy sản thế giới trung bìnhđầu người năm 2010 là 18,4/kg/người/năm và 2015 là 19,1 kg/người/năm, trong vòng 15 năm so với mức tăng 40% trong 20 năm trước.
Theo FAO tiêu thụ thủy sản trong tương lai theo 3 xu hướng khác nhau
                 + Thủy sản chế biến, thủy sản ướp lạnh ổn định.
                 + Tiêu thụ giáp xác, nhuyển thể, phi lê cá và các sản phẩm đã chế biến sẽ tăng.
                 + Tiêu thụ sản phẩm đông lạnh sẽ giảm.
       Với xu hướng nầy ĐBSCL có lợi thế cao để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thế giới. 
       Do đó phải quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ĐBSCL nói chung Đồng Tháp nói riêng, thị trường, vốn và xúc tiến thương mại, tổ chức quản lý cộng đồng, xử lý hệ thống chất thải, kiểm soát ô nhiểm, kiểm soát được chất lượng theo hướng sản xuất sạch hơn, đáp ứng các nhu cầu khắc khe của thị trường là giải pháp bền vững cho sự phát triển vùng nguyên liệu.
 
 
 
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU        
1.     Phương hướng:
Khai thác tốt tiềm năng phong phú và điều kiện thuận lợi về mặt nước chuyển đổi vật nuôi cây trồng một cách tích cực tập trung và áp dụng khoa học kỹ thuật nông nghiệp để tăng sản phẩm cung cấp cho tiêu dùng, xuất khẩu, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Phát triển nhiều hình thức nuôi trồng thủy sản : ao, hầm, ruộng, mương vườn, lồng bè,.. trồng các loại cây thủy sinh …. phát triển các ngành nghề nông thôn truyền thống và mọi nguồn lực trong xã hội. Tùy theo vùng sinh thái để bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi cho thích hợp. theo hướng “ tối ưu, bền vững”. Riêng về thủy sản phát triển mạnh mô hình nuôi tôm càng xanh + lúa ở cao ( một vụ lúa Đông Xuân + một vụ tôm càng xanh), mô hình nuôi cá mùa nước nổi …, đối với cây thủy sinh như cây sen, cây ấu, điên điển…         
 
2.Mục tiêu :
       Khai thác các mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, cây thủy sinh nhằm nâng cao hiệu quả trên 1 đơn vị diện tích với mục tiêu: đầu tư và bền vững.( Chủ yếu sản phẩm cây thủy sinh, khai thác cá tự nhiên)
 
3.Đối tượng:
-Khai thác cá tự nhiên: các loại cá trắng (chủ yếu cá linh), các đối tượng xuất khẩu như tôm càng xanh, bống tượng …
-Nuôi trồng thủy sản:
*Loại cá đen: lóc, rô, trê, sặc rằn, bống tượng, cá bông …
*Loại cá da trơn: cá tra, ba sa, cá hú … các vùng đã qui hoạch cho xuất khẩu.
*Loại giáp xác: tôm
-Trồng cây thủy sinh: sen, ấu, rau muống, rau nhút, điên điển, lục bình …
4. Các chương trình trọng tâm :
       - Nuôi cá :
       * Nuôi cá ao thâm canh: cá lóc, rô, sặc rằn
* Nuôi mùng, vèo
* Nuôi cá lồng: tập trung ở các tuyến kênh thuộc các xã vùng sâu Đồng Tháp Mười: Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Huyện Cao Lãnh và Hồng Ngự
* Nuôi cá, tôm vùng bải bồi: khai thác triệt để tìềm năng bải bồi để phát triển cá tra, điêu hồng, tôm càng xanh… các huyện trong tỉnh.
* Nuôi nhử tự nhiên (cá đồng): Tập trung chủ yếu ở các rừng tràm của các nông trường và khu bảo tồn thiên nhiên như : Tràm Chim, Gáo Giồng, Động Cát, Giồng Găng  hoặc nuôi nhử cá tự nhiên có đầu tư (thả thêm giống, thức ăn) chủ yếu các vùng có cao trình nước lũ dưới 2 mét.
Tổng sản lượng ước tính các đối tượng nầy khoảng 50.000 tấn – 60.0000 tấn/năm.
       - Nuôi tôm :
        Nuôi tôm trên ruộng lúa, trên bải bồi:       Vùng nuôi tập trung chủ yếu ở các huyện phía bắc sông Tiền ( riêng huyện Tam Nông khả năng phát tiển nuôi tôm trên 3.000 ha ) và 1 số huyện phía nam ven sông Tiền có thời gian ngập lũ dài, với diện tích từ 3.000 – 5.000 ha, sản lượng 3.000 tấn - 6.000 tấn/năm          
       - Trồng cây thuỷ sinh xây dựng từng dự án cụ thể)
+ Cây ấu : diện tích 400 ha – 500 ha/năm gồm Lấp vò,Lai vung và một phần của huyện Cao lãnh, Thanh Bình sản lượng 2000 tấn năm.
+ Cây sen : diện tích 300 ha - 400 ha/ năm gồm huyên Cao lãnh và Tháp mười, sản lượng 750 tấn - 1000 tấn/ năm.
+ Cây rau muống : chủ yếu Hồng ngự và Thanh bình 300 ha/năm,  sản lượng 360 tấn hạt/năm.
+ Cây điên điển: cần phải trồng các vùng bảo vệ chân đê bao, cụm tuyến dân cư, dọc theo sông rạch các huyện trong tỉnh.
5. Hiệu quả đầu tư :
       -  Lợi ích xã hội:
       Mùa nước nổi hàng năm  sẽ giải quyết thêm số lao động từ 20.000 – 30.000 người. Ngoài ra còn góp phần giảm tình trạng thất nghiệp cho dân cư vùng lũ thông qua việc thu hút thêm nhiều lao động gián tiếp liên quan đến các ngành nghề như sản xuất, thu hoặch, vận chuyển, chế biến, dịch vụ ngành nghề nông thôn như: chài lưới, đan lờ lợp, đăng, mê bồ, đóng xuồng, chế biến nước mắm , mắm, khô, hái bông điên điển, cắt lục bình, vớt ốc …Các cư dân vùng nước nổi sẽ góp phần nâng cao ý thức trách nhiêm của cộng đồng trong việc cùng chia sẽ đầu tư hợp tác để phát triển bền vững và hưởng lợi từ các sản phẩm đó, là một nội dung quan trọng “ xóa đói giảm nghèo” làm cho nông dân sống trong mùa nước nổi một cách tự tin vượt mọi khó khăn để ổn định cuộc sống.
       -  Lợi ích kinh tế:
       Nuôi cá mùa nước nổi có quy hoạch, có đầu tư năng suất đạt 800 kg- 1.000 kg cá/ha; nuôi tôm trên ruộng lúa năng suất  1.000kg – 1.500 kg/ha lợi nhuận gấp 3 lần lúa hoặc lợi nhuận hơn 50% đối với rau muống, 30-40% đối với cây sen hoặc 20-30% đối với cây ấu …và khai thác cá tự nhiên khi lũ về như : cá linh khoản 5.000 tấn /năm là loại cá có sản lượng cao nhất và các loại thủy sản khác, hàng năm sản lượng khai thác tự nhiên khoản 20.000 tấn/năm
       Ngoài ra trong những vùng đê bao khép kín huyện Tân Hồng, Hồng Ngự, Tháp Mười,Cao Lãnh… sản xuất lúa thu đông cung cấp lúa giống nguyên chủng hoặc giống xác nhận cho vụ Đông Xuân, trồng hoa màu phụ ở các vùng bờ bao vườn.
 
 
PHẦN IV: CÁC GIẢI PHÁP
 
 
Ngoài giải pháp về vốn đầu tư cho doanh nghiệp và nông dân… còn có những giải pháp sau
 
I. GIỐNG, THỜI VỤ, MÔ HÌNH
       1.Giống :
       Chủ động cung cấp giống lúa, giống thủy sản và nâng cao công tác quản lý, cần thành lập các Công ty cổ phần giống nông nghiệp, giống thủy sản trên cơ sở các Trung tâm giống hiện nay của Tỉnh
       Sắp xếp lại các cơ sở sản xuất giống tư nhân hiện có đảm bảo chất lượng , số lượng.  
       Tăng cường công tác quản lý nhà nước kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng trong sản xuất giống, nâng cao nhận thức và cách phân biệt chất lượng giống cây trồng, vật nuôi của người sản xuất thông qua hoạt động khuyến nông.
       2.Thời vụ:
       Nước lũ tràn vào đồng có thể thả con giống từ tháng 7 và thu hoạch vào tháng 12 hàng năm.
       Đảm bảo tính hiệu quả sản xuất mùa nước nổi, các con giống cần đạt các tiêu chuẩn giống và mật độ nuôi cho từng đối tượng mà ngành nông nghiệp đã qui định.          
3.Xây dựng mô hình:
Nghành khuyến nông hoặc các doanh nghiệp làm khuyến nông cần xây dựng các mô hình trình diển, tập trung qui mô lớn cho các huyện trọng điểm, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật cho nông dân một cách thiết thực phù hợp cho cho từng vùng sinh thái và hiệu quả.
                                                                                   
       II. VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Khoa học công nghệ giữ vai trò quan trọng là động lực đẩy phát triển sản xuất trong hoạt động kinh tế nông nghiệp. Để ổn định và phát triển sản xuất trong mùa nước nổi phải có các giải pháp khoa học hoàn chỉnh. Cần tập trung vào các công tác cụ thể như sau:
- Nghiên cứu và đánh giá các thành quả khoa học công nghệ hiện có trong các lỉnh vực cây trồng vật nuôi, khai thác, chế biến, dịch vụ. Từ đó xây dựng chương trình cụ thể phát triển khoa học công nghệ, nhằm nâng cao mục tiêu sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm mùa nước nổi cho xuất khẩu.
- Ứng dụng công nghệ sinh học trong cây trồng vật nuôi, khai thác và chế biến sản phẩm, loại bỏ các kỹ thuật lạc hậu, hoàn thiện qui trình sản xuất , nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Trang bị các thiết bị chuyên dùng quản lý chất lượng sản phẩm, thực hiện tốt công tác dự báo tình hình khí tượng thủy văn, tình hình dịch bệnh, tình hình ô nhiễm môi trường, chủ động xử lý để hạn chế rủi ro trong quá trình sản xuất.
- Tăng cường công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cấm sử dụng hóa chất độc hại, sung điện, chất nổ để khai thác nguồn lợi thủy sản, cấm sử dụng một số hóa chất, kháng sinh trong sản xuất, kinh doanh doanh thủy sản với mục tiêu bảo vệ môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Vấn đề được quan tâm nhiều nhất chính là môi trường nước trên các sông rạch. Các nguồn nước trong tỉnh bị chi phối bởi chất lượng nước từ thượng nguồn đổ về, nước mưa và nước ngầm, chất lượng nước cũng bị chi phối chất lượng nước từ thượng nguồn, xả thải của sinh hoạt và các hoạt động kinh tế khác. Có thể nói, chất lượng môi trường trong nước đang bị ảnh hưởng và tác động của toàn bộ các hoạt động sản xuất trong và ngoài vùng sau khi lũ rút. Do đó, sự quan tâm quản lý các tác động môi trường là điều rất cần thiết, vì nó tác hại trực tiếp đến đời sống người dân, gây ra các thiệt hại mà ta không thể lường trước được.
 
III. VỀ CHÍNH SÁCH     
Tiếp tục thực hiện các chính sách đã và đang có tác dụng khuyến khích sản xuất phát triển, đồng thời nghiên cứu bổ sung các chính sách mới nhằm phát huy hiệu quả vai trò hỗ trợ sản xuất, tạo môi trường công bằng trong sản xuất và kinh doanh :
- Chính sách ưu đải mặt nước nuôi kết hợp ruộng lúa mùa nước nổi và mặt nước bải bồi ven sông .
- Quy mô gia đình vay vốn theo kinh tế hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân sống trong vùng nước nổi có điều kiện phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống.
- Kinh tế tập thể, kinh tế trang trại, tổ hợp tác, Hợp tác xã vay theo dự án.
- Hỗ trợ thiệt hại do thiên tai, lũ, lốc xoáy, dịch bệnh hoặc các công trình sản xuất . 
- Hỗ trợ các giống vật nuôi, cây trồng có đầu tư nuôi trồng mùa nước nổi.
 
IV. ĐÀO TẠO NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN
Các Trung tâm dạy nghề ở các huyện thị cần đào tạo các ngành nghề trong mùa nước như: đan lưới, đan lờ lợp, mê bồ, đóng xuồng, kỹ thuật khai thác đánh bắt cá tự nhiên, chế biến các sản phẩm có giá trị cao cho tiêu dùng và xuất khẩu.
Ngoài ra, tổ chức tập huần nông dân áp dụng các quy trình cây trồng vật nuôi, các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường, sử dụng các chế phẩm sinh học, kết hợp với các phương pháp vật lý, hóa học, sinh học khác… để sản phẩm nông nghiệp được an toàn vệ sinh thực phẩm và truy xuất được nguồn gốc.
 
V. THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ  
Xu hướng và nhu cầu tiêu thụ thị trường thủy sản thế giối từ đây đến năm 2020 tăng mạnh, do đó;
- Phát triển thị trường trên cơ sở đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, tiêu thụ nội địa cung cấp cho các siêu thị hoặc các chợ đầu mối ở các thành phố lớn.
- Chú trọng thị trường trong nước nhất là các khu công nghiệp. khu du lịch, trung tâm thành phố lớn.
- Tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương thực hiện công tác xúc tiến thương mại, mở rộng ngoại giao tìm kiếm thị trường tiêu thụ các mặt hàng trong mùa nước nổi.  
 
VI. CỘNG ĐỒNG
1.     Lựa chọn qui trình kỹ thuật theo hướng GAP hoặc Global GAP …
2.Xây dựng mô hình sản xuất dựa trên mô hình tổ hợp tác nuôi tôm công nghiệp hoặc nuôi cá công nghiệp, trồng cây thủy sinh…
2.     Xây dựng dự án phát triển nhân rộng sang các mô hình khác.
4. Tổ chức vận động và quản lý cộng đồng.
Giải pháp cộng đồng góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện chương trình xóa đòi giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế.
 
VI. CÁC DOANH NGHIỆP
Các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, các doanh nghiệp tiêu thụ nội địa là các đầu mối giử vai trò quan trọng thực hiện chương trình, trực tiếp thu mua và chế biến xuất khẩu. Mặt khác tổ chức mạng lưới thu mua tại các vùng nguyên liệu, chủ động liên kết với nông dân thông qua việc đầu tư vốn để thu mua lại nguyên liệu.
 
 
         Tóm lại: Dựa trên cơ sở đánh giá tổng hợp hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng sản xuất, các định hướng chiến lược phát triển của ngành nông nghiệp. Theo đó kế hoạch hàng năm sẽ sử dụng mặt nước mùa nước nổi để nuôi cá ruộng cá tự nhiên, nuôi tôm càng xanh trên ruộng,… trồng cây thủy sinh, lúa vụ Thu Đông, các ngành nghề phát triển trước, đang và sau mùa nước nổi, tác động tích cực về lao động nông thôn ngày càng hiệu quả hơn.
       Sản xuất trong mùa nước nổi thể hiện là các mô hình nuôi sinh thái, vừa thân thiện về môi trường, vừa có khả năng phát triển bền vững, bảo đảm được độ an toàn vệ sinh thực phẩm cao cho sản phẩm cây trồng vật nuôi, đồng thời bảo vệ phát triển và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên đặc trưng cho vùng Đồng Tháp Mười, kinh tế phát triển, dân trí được cải thiện sẽ là cơ sở để người lao động có thêm kiến thức tốt, thực hiện được các quy trình sản xuất phức tạp hơn, là một biện pháp lớn giúp nông dân ổn định phát triển kinh tế và bền vững trong mùa nước nổi. 
                                              
                
                        
 
      
 
 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 243659 visitors (902706 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=