thnlscantho-3
  Kỹ thuật sản xuất...
 
18/6/2012

          
   KỸ THUẬT SẢN XUẤT LUÂN CANH LÚA – TÔM CÀNG XANH
                      (Luân canh 1 vụ lúa Đông Xuân, 1 vụ tôm)
 
 
                        Đặng Hoàng Minh
 
 
          Tận dụng, khai thác lợi thế mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu long, một số tỉnh như Đồng Tháp, An Giang và các tỉnh phụ cận được hưởng lợi mùa nước nổi từ sông Tiền, sông Hậu tràn về ngập hầu hết các cánh đồng ở độ sâu từ 2m - 4 m. Đây là điều kiện tốt cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt nuôi tôm càng xanh mùa nước nổi trên chân ruộng lúa Đông Xuân sau khi thu hoạch, giúp nông dân tăng thêm thu nhập gấp từ 5 – 7 lần/ha so với vụ Hè Thu, đây là hệ thống canh tác rất bền vững trong sản xuất nông nghiệp.
 
      
            KỸ THUẬT SẢN XUẤT LÚA  ĐÔNG XUÂN
 

 
I.Thời vụ
Sau khi thu hoạch tôm, cuối mùa lũ thuỷ triều rút thì tiến hành gieo sạ tập trung, thời điểm xuống giống theo lịch xuống giống của tỉnh để né rầy.
Vụ Đông xuân thường xuống giống vào tháng 11-12 dương lịch
II. Làm đất:
Đất lúa tôm có lớp phù sa bồi đắp, chỉ cần vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch rong cỏ trên ruộng và bờ bao, sau đó kéo sơ mặt ruộng lại cho bằng phẳng trước khi sạ, nhằm giữ lại lớp phù sa trên mặt ruộng, đây là dưỡng chất rất tốt cho cây lúa.
 
III.Giống lúa và chuẩn bị lúa giống
Chọn giống lúa chất lượng cao, có thời gian sinh trưởng từ 95-100 ngày, phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương, nên chọn giống cấp xác nhận để canh tác. Trồng lúa luân canh với vụ tôm nên rất thuận lợi cho sản xuất giống vì chân ruộng không lẫn lúa nền, nếu sản xuất giống thì dùng giống cấp nguyên chủng.
Những giống thường nhiễm lúa von (Jasmine, HĐ1, OM 2517,….) cần phải xử lý với các loại thuốc Folicur sữa, jivon,…..liều lượng theo khuyến cáo trên nhãn chai
 
IV. Gieo sạ
Giống tiến hành xử lý và ngâm theo qui trình, ủ mọng dài khoảng 3-4cm thì tiến hành gieo sạ, áp dụng phương pháp sạ hàng mọng lúa nhú mầm đến 1 cm với mật độ sạ: 100- 120 kg/ha.
 
V. Phòng trừ cỏ dại và lúa cỏ:
Cần phải loại bỏ hạt cỏ trong nguồn giống gieo sạ (giống không lẫn hạt cỏ, sàng sảy, đãi trong nước trước khi ngâm ủ …). Ruộng sản xuất lúa trong vùng sản xuất lúa- tôm rất dễ chủ động nước nên sử dụng các loại thuốc trừ cỏ sớm thuộc nhóm tiền nảy mầm để diệt cỏ, bơm nước để ém cỏ, sau đó cắt những bông cỏ sót trước khi thu hoạch.
 
VI. Quản lý nước
Gieo sạ xong cần chắt nước ráo, chỉ để ruộng đủ ẩm đáp ứng yêu cầu phun thuốc cỏ tiền nảy mầm. Sau khi phun xịt thuốc trừ cỏ 1 – 2 ngày phải đưa nước vào ruộng mới phát huy tốt hiệu quả thuốc.
- Đủ nước cho việc bón phân lần 1 thật sớm (7 – 10 ngày sau sạ)
- Từ 10 – 18 NSS giữ nước trên ruộng từ 1 – 3 cm
- Từ 18 – 22 NSS bơm nước để bón phân lần 2 (không chờ cấy dặm xong, chổ nào chưa xong thì chừa lại bón sau), giữ mực nước không quá 5 cm.
Trường hợp nếu có rầy di trú cho nước ngập cây lúa trong thời gian rầy di trú để hạn chế khả năng chích hút, đẻ trứng và truyền bệnh.
- Giai đoạn từ 25 – 40 NSS (sau bón phân lần 2 và trước bón phân lần 3): nếu không có rầy di trú, cần tháo nước ra cho ruộng khô ráo, thông thoáng, giúp bộ rễ lúa ăn sâu, giảm đổ ngã về sau. Nếu có rầy di trú cũng cần đưa nước vào để hạn chế khả năng chích hút, đẻ trứng và truyền bệnh hoặc phun xịt thuốc
- Khi quan sát trên ruộng có 2/3 lá lúa chuyển màu vàng chanh (38 – 45 NSS) đưa nước vào ruộng để bón phân lần 3 (bón nuôi đòng).
- Giữ mực nước 5 cm trên ruộng từ lúc lúa làm đòng đến chín sáp.
 
VII. Phân bón
Sau vụ nuôi tôm, trong tầng canh tác tích lũy một lượng chất hữu cơ do lượng thức ăn dư thừa, chất thải của tôm, nên cần sử dụng bảng so màu lá lúa để bón phân cân đối, tránh thừa đạm gây đỗ ngã, ảnh hưởng đến năng suất.
Có thể dùng một số loại phân sinh học như WEGH, Dasvila, NEB 26 để giảm bớt lượng Urê bón cho ruộng lúa.
 
VIII. Quản lý dịch hại
Khi áp dụng kỹ thuật sạ thưa, sạ hàng bón phân cân đối theo bảng so màu lá, sẽ giúp lúa cứng cây, ít sâu bệnh sẽ hạn chế được việc sử dụng thuốc báo vệ thực vật. Cần điều tra phát hiện sớm một số đối tượng gây hại quan trọng như: OBV, sâu phao đục bẹ, sâu cuốn lá, rầy nâu, đạo ôn, cháy bìa lá và phòng trừ kịp thời.
 Đối với bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cần phải phát hiện sớm và nhổ bỏ.
 Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc hóa học, chỉ phòng trị khi thật cần thiết, chỉ nên chọn những thuốc vi sinh ít độc cho tôm cá, tuyệt đối không được sử dụng những thuốc bảo vệ thực vật gốc Clo hữu cơ có độc tính cao và độ lưu tồn trong môi trường đất nước lâu.
 
IX. Thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch
Áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, chăm sóc cây lúa đứng, để thuận lợi cho việc thu hoạch bằng cơ giới hóa. Tiến hành thu hoạch khi có 85- 90% số hạt trên bông chín vàng.
Suốt và phơi sấy lúa ngay sau khi gặt, không nên phơi mớ ngoài đồng vì làm cho hạt gạo rạn gãy.
Tồn trữ nơi khô ráo, thông thoáng.
 
 
 
 
 
                          KỸ THUẬT NUÔI TÔM CÀNG XANH
 
      


 
I. Cải tạo ruộng nuôi
- Sau khi thu hoạch lúa đông xuân xong dùng máy xới, kobe ủi bỏ lớp đất mặt từ 3 - 5cm.
- Bón vôi với liều lượng 7 – 10 kg/100 m2.
- Dùng 20-30 kg phân NPK (16:16:8) cho 1 ha.
 Nếu sau 3 ngày nước vẫn chưa có màu, cần bổ sung 2-3 kg phân NPK/ha, 3 ngày sau kiểm tra màu nước, nếu chưa đạt yêu cầu thì tiếp tục làm như trên đến khi ruộng có màu xanh đọt lá chuối.
- Dùng (10 kg bột đậu nành + 10 kg bột cám gạo + 5 kg bột cá)/ha nấu chín, trộn đều, ủ qua đêm hòa vào nước tạt đều khắp ruộng nuôi làm liên tục 3-4 ngày vào lúc sáng sớm.
- Kiểm tra pH = 6,5 – 8
- Độ trong nước từ 30 – 40 cm, thì tiến hành thả giống.
II. Chọn giống và thả giống:
 Nên mua tôm giống ở những trại có uy tín (giống tốt, ít dịch bệnh, chất lượng ổn định,…)
- Tôm giống có nguồn gốc rõ ràng và phải được kiểm dịch trước khi xuất khỏi trại, phải có công bố chất lượng con giống.
- Trọng lượng tôm giống từ 50-70 ngàn con/kg.
- Mật độ thả nuôi 10 con/m2 
- Nếu diện tích ruộng nuôi từ 1,5 ha trở lại có thể cải tạo thật kỹ rồi thả giống trực tiếp xuống ruộng nuôi.
- Còn diện tích lớn hơn 2 ha thì nên có ao ương để dễ quản lý chăm sóc nhằm tăng tỷ lệ sống.
 Cần tuân thủ lịch thả giống theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thủy sản địa phương.
- Mỗi ruộng nuôi cần thả đủ lượng giống trong một lần.
- Nên vận chuyển tôm giống vào lúc sáng sớm hay chiều tối nhằm tránh nhiệt độ quá cao gây sốc cho tôm. Thời gian vận chuyển con giống từ trại giống về nơi nuôi càng nhanh càng tốt (không quá 10 giờ).
 
III. Quản lý môi trường
 
Thông số
Giới hạn tối ưu
Ghi chú
pH
7-8.5
Dao động hàng ngày < 1
Oxy hòa tan
5-6 mg/l
Không dưới 4 mg/l
Độ kiềm
80-130 mgCaCO3/l
Phụ thuộc vào sự dao động của pH
Độ trong
30-40 cm
Đo bằng séc xi
H2S
< 0.03 mg/l
Độc hơn khi pH giảm thấp
NH3
< 0.1 mg/l
Độc hơn khi pH và nhiệt độ cao
 
IV. Quản lý thức ăn và phương pháp cho ăn
- Cần lựa chọn thức ăn của những cơ sở sản xuất có uy tín và sử dụng loại thức ăn chuyên dùng cho tôm càng xanh và có hàm lượng dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tôm, trong đó cần lưu ý hàm lượng đạm tối thiểu cho tôm càng xanh từ 40% giảm dần đến 35% khi tôm xuất bán (10-20 con/kg) và độ bền của thức ăn trong nước ít nhất 2 giờ (theo tiêu chuẩn ngành).
- Cần kiểm tra thông tin trên bao bì để biết chi tiết chất lượng và hạn sử dụng của thức ăn, đối chiếu các chỉ tiêu chất lượng ghi trên nhãn với phiếu kiểm tra chất lượng của lô hàng. Khi có nghi ngờ, cần lấy mẫu để kiểm tra chất lượng và kháng sinh cấm.
- Bảo quản thức ăn nơi khô ráo, thoáng mát đồng thời có biện pháp ngăn chuột và côn trùng xâm hại.
Lượng thức ăn sử dụng trong ngày được tính toán dựa trên tổng lượng và kích cỡ tôm trong ruộng, ao kết hợp với kiểm tra trên sàng ăn.
Thời điểm cho ăn trong ngày phụ thuộc vào lứa tuổi của tôm, thường là  5 lần/ ngày: lần 1 ( 6h), lần 2 (10h), lần 3 (14h), lần 4 (18 h), lần 5 (20h) sau đó giảm dần còn 2 – 3 lần/ ngày.
Trong 2 tháng đầu, do tập tính của tôm phân bố ở khu vực ven bờ nên thức ăn cần được rải ở vùng nước gần bờ.
Từ tháng thứ 3 thức ăn được rải đều khắp vuông.
Tránh rải thức ăn nơi đáy dơ bẩn và quá sát bờ.
Các vị trí có nhiều chất cặn bã lắng tụ nên làm dấu bằng cọc để tránh cho tôm ăn ở đó.
V. Thu hoạch:
     Thời gian nuôi từ 6 – 7 tháng thu hoạch.
 
VI. Một số bệnh thường gặp ở tôm càng xanh
+ Các bệnh thường gặp :
- Bệnh đóng rong
- Bệnh đốm nâu và hoại tử phụ bộ
- Bệnh đen mang
- Bệnh đục thân:
- Bệnh mềm vỏ
+Các yếu tố khác ảnh hưởng đến tôm nuôi
- Cá dữ:
Các loài cá dữ như: cá lóc, cá trê, lươn…có trong ao nuôi tôm đã giết hại tôm, gây hao hụt lớn. Vì thế tẩy dọn đáy ao, bờ ao phải đắp cao chắc chắn, lấy nước vào ao phải qua lưới lọc… là những biện pháp cần thiết.
Nếu trong ao tôm có nhiều cá dử thì phải xử lý bằng rễ dây thuốc cá với liều lượng 1 – 1,5 kg/100m3 nước ao: tháo bớt nước ao còn khoảng 0,5m tạt đều khắp mặt ao sau 30 phút đến 1 giờ cá có thể chết nhưng tôm nuôi vẫn an toàn. Sau khi xử lý xong lấy nước mới vào ruộng, ao ở mức bình thường
- Hiện tựơng nổi ván đỏ, ván xanh trên mặt nước:
Là hiện tượng tảo phát triển mạnh được gọi là tảo nở hoa. Khi xảy ra hiện tượng tảo nở hoa sẽ gây thiếu oxy, thừa cacbonic CO2 trong nước vào lúc rạng sáng. Khi nước nuôi tôm nổi váng tảo phải thường xuyên lấy nước vào họăc có thể dùng rơm để vớt hoặc thả bèo tây ở đầu gió đẩy bèo trôi kéo theo váng tảo dạt vào một gốc và dùng vợt để vớt.
- Hiện tượng do sốc nhiệt độ: Nếu nhiệt độ thay đổi đột ngột từ 5-60C sẽ làm tôm chết hàng loạt. Nên khi thả tôm cần cân bằng nhiệt độ từ 5-10
phút. Đây là thao tác kỹ thuật cần thiết mỗi khi thả tôm nuôi.
- Hiện tượng mưa dông:
Nước mưa của những cơn mưa đầu mùa làm rửa chua phèn đưa xuống ao làm giảm độ pH của nước có thể dẫn đến tôm chết hàng loạt, do đó vào đầu mùa mưa cần phải rãi vôi quanh bờ ruộng, ao.
- Ảnh hưởng bởi thuốc bảo vệ thực vật:
Đây là nguyên nhân làm ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của cả quá trình nuôi mà do người nuôi không theo dõi chặt chẻ hoặc gió thổi từ các ruộng lúa đang xịt thuốc trị rầy bay sang, nguồn nước có thuốc BVTV từ nơi khác chảy ra kênh rạch hoặc sử dụng thuốc BVTV để thuốc cua mà ta không biết nên bơm vào ruộng, ao làm tôm chết hàng loạt
 
          Tóm lại: Qua nhiều năm một số tỉnh ĐBSCL áp dụng hệ thống canh tác lúa - tôm ngày càng được nhân rộng, lan tỏa ở nông thôn và có một số địa phương  hình thành Dự án vùng chuyên canh cánh đồng lúa – tôm càng xanh mùa nước nổi hàng trăm hecta giúp cho đời sống nông dân ổn định, bớt đi nổi cơ cực vùng ngập lũ.
 
 
 
 
 
 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 235007 visitors (876737 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=