thnlscantho-3
  Chữ ăn
 
25/9/2012


CHỮ ĂN

 

 

     Ăn là nhận thức ăn vào hệ tiêu hóa để nuôi sống cơ thể. Có câu hỏi Ăn để sống hay sống để ăn?’. Muốn sinh tồn phải ăn uống. Ăn uống cần có thật đầy đủ dinh dưỡng chất đạm, chất đường, chất béo, sinh tố, nguyên tố kim loại hữu cơ và nước. Không ăn uống đủ thì thiếu dinh dưỡng. Ăn nhiều mập quá không tốt vậy nên ăn ít lại cho thân hình cân đối để sống vui sống khỏe; ăn không thấy ngon, ăn ít, khó ngủ, nằm trằn trọc suốt đêm, nên sức khỏe yếu, báo động rằng thân thể không được yên ổn. Khi tối ngày cứ ăn cứ nhậu nhiều quá thì say xỉn té bờ té bụi thì lại không tốt cho sức khỏe. Mọi người quan niệm hẳn hòi không phải sống để ăn, nhưng ăn uống phải ngon miệng, đồ ăn cần nấu nướng kỹ lưỡng, ăn ngon miệng mới no bụng, ăn không vô khiến cho cái bụng này đói meo. Nên có câu: ‘Ăn được ngủ được là tiên’.

 

                        Ăn ngon ngủ kỹ no lòng,

                   Giữ gìn sức khoẻ sống trong cuộc đời.

                        Khi nào an lạc thảnh thơi?

                   Thì là có được cơ ngơi thái hòa.

                        Nguyễn Du phân định rõ mà,

                   Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

                        Đêm ngày trời đất đổi thay,

                   Mưa to phong vũ những ngày tối tăm.

                        Đại dương tiềm ẩn sóng ngầm,

                   Dung nham núi lửa âm thầm triền miên.

                        Tinh thần tương trợ góp quyên,

                   Nhường cơm xẻ áo câu nguyền trọn mang   

                        Sống trong cuộc sống giàu sang,

                   Gặp người hoạn nạn lầm than giúp liền.

                        Ngày xưa mơ đến cõi tiên,

                   Nên chàng Từ Thức bỏ miền trần gian.

                        Vẫn chưa thấy được thiên đàng,

                   Quay về trần thế rõ ràng tìm ra.  

                        Giữ cho thanh tịnh lòng ta,

                   Bồng Lai Tiên Cảnh chính là ở tâm.   

     Chữ ăn còn có nhiều nghĩa rộng như ăn ở, ăn nằm, thường nghe câu nói ‘Ông ăn ở với nhau được một tiểu đội’. Chữ ăn còn có lắm nhiều nghĩa. Lợi lộc cho người ăn như ăn tiền, ăn lương, ăn lời’. Nhiều chữ ghép với chữ ăn, ăn xin, ăn mày, ăn hại, ăn lời cắt cổ, ăn cắp, ăn hối lộ. Khi băn đòn’ hay bị ăn roithì bị khóc thét. Tiếng lóng như ăn vụng ‘có vợ rồi mà còn đi ăn vụng hoài không tốt’, ăn nhằm ‘không ăn nhằm gì tới chuyện của anh’. Chụp hình đẹp thì cần ‘ăn ảnh, nhuộm cho ăn màu’, miếng ăn, đồ ăn, thức ăn, phần ăn, bữa ăn ‘trời đánh tránh bữa ăn’, ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối, miệng ăn ‘nhà có mấy miệng ăn’, phòng ăn, cây ăn trái, ăn nhậu chuyện này hổng ăn nhậu gì đến mọi người thì đừng nên xía vào không tốt’, ăn tiêu, ăn xài, ăn chay ăn lạt, ăn mặn, ăn quà vặt, chạy ăn, ăn chơi ‘ăn chơi phè phỡn’, ăn thiệt ‘làm chơi ăn thiệt’, ăn nhà hàng, ăn mừng, ăn tiệc, ăn cưới, ăn cỗ, ăn giỗ, ăn sinh nhựt, ăn đầy tháng, ăn thôi nôi, ăn Tết, ăn chực, ăn ké, ăn theo, ăn vụng ‘lầm lầm lì lì như chó ăn vụng bột’ hay ‘im ỉm như mèo ăn vụng’, ăn lâu lắc quá ‘ăn từ Dần đến Dậu, ‘ăn từ chuối trồng cho tới chuối trổ’.

 

     Thường người ta nói ăn xin, ăn mày ‘nhìn mặt giống y như người ăn mày’, ăn chia ‘ăn đồng chia đủ’, ăn tiền ăn bạc, ăn chận ăn bớt, ăn gian chơi ăn gian’, ‘ăn gian nói dối’, ‘ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt’, ăn trộm ăn cắp, ăn trộm ăn cướp ‘vừa ăn cướp vừa la làng’, ăn giựt, ăn học, học ăn ‘học ăn học nói, học gói học mở’, ăn nói ‘ăn làm sao nói làm sao’, ăn mặc, ăn ở ‘ăn nhờ ở đậu’, ăn nằm, ăn dầm nằm dề’, ăn thua đủ ‘nhất quyết ăn thua đủ’. Chữ ăn không liên quan gì với chuyện ăn uống như ăn năn ăn năn sám hối’, nước ăn chân, cắt huyết ăn thề. Chữ ghép với chữ ăn là ý nghĩa có hại cho người bị ăn là ăn gậy, ăn ba ton, ăn thoi, ăn đạn, ăn hiếp ‘ma cũ ăn hiếp ma mới’, ăn trầu ‘lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc’.

 

     Thành ngữ, tục ngữ và ca dao có rất nhiều chữ ăn: ăn bánh trả tiền, ăn bớt ăn xén, ăn bốc ăn hốt, ăn cháo đá bát, ăn cho buôn so, ăn chơi trát tán, ăn chực nằm chờ, ăn dầm nằm dề, ăn đời ở kiếp, ăn đợi nằm chờ, ăn đồng chia đủ, ăn gian nói dối, ăn hiền ở lành, ăn uống kiêng cử, ăn không nói có, ăn không ngồi rồi, ăn lông ở lổ, ăn mắm ăn muối, ăn mặn khát nước, ăn miếng trả miếng, ăn năn hối cải, ăn no mặc ấm, ăn no ngủ kỷ, ăn ngay nói thật, ăn ngang nói ngược, ăn ngon mặc đẹp, ăn ngon ngủ yên, hay ăn chóng lớn, ăn sung mặc sướng, ăn tiền ăn bạc, ăn tươi nuốt sống, ăn thật làm giả, ăn thịt ăn cá, ăn trên ngồi trước, ăn bánh vẽ, ăn bữa giỗ lỗ bữa cày, ăn cây nào rào cây nấy, ăn chưa no lo chưa tới, ăn coi nồi ngồi coi hướng, ăn cơm Chúa múa tối ngày, ăn cơm nhà làm chuyện thiên hạ, ăn trái nhớ kẻ trồng cây, ăn nhín nhín bà Chín bẻ răng ăn nhiều nhiều bà Thiều bẻ cổ, có đức mặc sức mà ăn, có mắm ăn mắm có muối ăn muối, cọp ăn bùa mắt, cơm ăn áo mặc, cố đấm ăn xôi, công ăn việc làm, của ăn của để.

 

     Chằn ăn trăn quấn, chấm câu ăn tiền, cho ăn bánh vẽ, cho chó ăn chè, chó ăn đá gà ăn muối, chó ăn vụng bột, dễ như ăn cơm sườn, dư ăn dư để, dư ăn dư mặc, đàn cá tranh ăn, đói ăn khát uống, đói ăn rau đau uống thuốc, đói ăn vụng túng làm càn, đói nằm co ăn no tức bụng, đời cha ăn mặn đời con khát nước, đổ thóc giống ra mà ăn, đủ ăn đủ mặc, gà què ăn quẩn cối xay, ‘giàu thì cơm ăn ngày ba, nghèo cũng đỏ lửa ba lần’, ghen ăn tức ở, ham ăn ham nói, hay ăn chóng lớn, lớn ăn hiếp nhỏ, ‘kẻ ăn không hết, người lần không ra’, kẻ ăn ốc người đổ vỏ, kẻ ăn người làm, khéo ăn khéo nói, cá ăn kiến kiến ăn cá, làm ăn buôn bán.

 

     Buôn bán làm ăn, làm ăn lương thiện, làm ăn sinh sống, làm chơi ăn thiệt, ‘kiếp trâu ăn cỏ, kiếp chó ăn dơ’, lời ăn lỗ chịu, lời ăn tiếng nói, lỗ mũi ăn trầu cái đầu xỉa thuốc, ăn sạc nhiệp, ăn thật làm dối, mất ăn mất ngủ, mê như ăn phải bùa, một ăn một thua, năm ăn năm thua, một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ, một lời nói ngay bằng ăn chay cả tháng, của không ăn gắp bỏ cho người, nơi ăn chốn ở, nửa ăn nửa bỏ, ngày làm tháng ăn, ngồi mát ăn bát vàng, nhà báo nói láo ăn tiền, nhà giàu đứt tay như ăn mày đổ ruột, nhịn ăn nhịn mặc, ông ăn chả bà ăn nem, thói ăn nết ở, trâu buộc ghét trâu ăn, trời đánh tránh bữa ăn, vừa ăn cướp vừa la làng, thợ rèn không dao ăn trầu, thừa trăng ăn trộm, ăn cơm hớt, tháng Giêng là tháng ăn chơi, ăn cay nuốt đắng, ăn cầm chừng

                         - Ăn trái nhớ kẻ trồng cây,

                   Ăn gạo nhớ kẻ giã xay giần sàng.

                         - Cá không ăn muối cá ươn,

                   Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.

                         - Chó đâu chó sủa lỗ không,

                   Chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày.

                         - No rồi lại muốn kiếm thêm,

                   Mèo không ăn vụng đi đêm làm gì?

                         - Miếng ăn là miếng tồi tàn,

                   Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu.

 

                         - Ăn không rồi lại nằm không,

                   Mấy non cũng lở mấy công cũng mòn.

                         - Con cò mà đi ăn đêm,

                   Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

                         - Bực mình mà chẳng nói ra,

                   Muốn đi ăn giỗ chả ma nào mời.

                         - Ăn đong cho đáng ăn đong,
                   Lấy chồng cho đáng hình dong tấm chồng.

                         - Ăn no rồi lại nằm quèo,

                  Thấy giục trống chèo vội vã đi xem.

 

                         - Ăn trăng nói gió tầm phào,

                   Ai ăn bánh vẽ lại gào khen ngon!

                         - Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

                   Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa.

                         - Ăn sao cho được mà mời,
                   Thương sao cho được vợ người mà thương.

                         - Ăn sung ngồi gốc cây sung,
                   Chồng một thì lấy chồng chung thì đừng.

                         - Ăn tiêu nhớ tỏi bùi ngùi,

                   Ngồi bên đám hẹ nhớ mùi rau răm.
                           Hỡi người quân từ trăm năm,
                   Quay tơ có nhớ mối tằm hay không?

 

 

Sưu tầm ngày 18/9/2012  Trần V Diên (10CT-1970)

 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 243648 visitors (902383 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=