thnlscantho-3
  Cá mập đầu búa...
 
07/6/2013

  Cập nhật hiểu biết một ngành sản xuất quan trọng nước nhà:

 
Việt Nam có nên thôi  đánh bắt ăn và xuất khẩu vi và thịt…  cá mập ( cá nhám, cá nhà táng ? …) rồi chăng?                             
 

    


         Từ xa xưa thế giới đã đánh bắt cá mập –sharks lấy vi cá giá trị,  nhưng nay Hoa kỳ đang la hoảng vì khảo sát thấy đa số lòai cá mập biển Nam Ca Li và Thái Bình Dương Bắc Mễ Tây Cơ, lòai săn bắt mồi khẩn thiết, đang tan biến dần ở biển sâu. Tháng 10 mỗi năm thường là tháng có nhiều cá mập ở biển Vịnh Nam Ca Li- Baja California gần thị trấn La Paz, bán đảo Baja - Mễ Tây Cơ . Khi nước biển lạnh thêm, các cá mập đầu búa – hammerhead sharks, lọai cá mập cở trung bình đến đây, tụ tập thành từng đòan đông đúc. Vào cuối thập niên 1970, các nhà sinh học biển khám phá những đàn cá khổng lồ này xoắn lượn gần một núi dưới biển tên gọi là El Bajo, nhiều đến nổi họ ngộp thở, lặn xuống sâu vài mét, ngẩu nhiên bắt một con, cột vào nó một thẻ điện tử với một que . Thời đó làm như vậy, vì họ nghĩ rằng cá đầu búa dị tướng kiểu thần tượng ăn thịt người này rất đáng sợ. Sau đó núi dưới biển trở thành một nam châm cho các nhà khoa học cũng như các nhà nhiếp ảnh. Hình ảnh hàng trăm đàn cá đầu búa, vớí đầu bầu dục nhận diện được liền, biến thành một biểu tượng về phong phú đại dương và là một trong những kỳ quan lớn nhất thế giới thiên nhiên.
         Tháng 11 năm 2011, Taylor Chapple, một chuyên viên về cá mập thời danh thế giới đến nơi , cố công chứng minh một lý thuyết đã lâu ngày là cá đầu búa và có lẽ các cá mập khác di chuyễn xuyên qua một cảm giác  từ tính mạnh – powerful magnetic sense. Hầu chứng minh cảm giác thực thể này, ông làm một thí nghiệm mới. Ông bắt một con cá mập đầu búa, cột một máy phát truyền vào đẩu cá và thả cá ra biển lại. Rồi khi cá lang thang trên biển, Chapple sửa đổi dòng điện từ bằng linh kiện điều khiển từ xa. Nếu cá cảm giác được  từ tính - magnetism , linh kiện Chapple dùng sẽ hướng dẫn cá mập không khác gì một   vật trò chơi điều khiển xe hơi từ xa. Chỉ có một vấn đề : không có cá mập nào cả. Ông xử dụng mọi cách đánh bắt, cả ngày lẫn đêm không ngừng trong hai tháng trời, nhưng không bắt được con nào. Vào thập niên 1980, ở Biển Cortez Sea , một vịnh giữa bán đảo Baja và lục địa, có hàng trăm cá đầu búa. Hàng năm chúng tụ tập quanh núi biển và nhảy múa lượn chậm chậm quay tròn vũ khúc yêu đương ban ngày và phân tán ban đêm. Ngày nay không còn cá nhảy múa nữa. Nếu may mắn, các nhà tổ chức du lịch có cơ nhìn thấy vài cá mập con chưa trưởng thành mỗi muà.
             


      Khắp hành tinh Trái Đất cũng như tại đây, cá mập được xúc lên khỏi nước vì cá giá trị mau lẹ như lưới chăng – gill nets ( cá lọt đầu nhưng mắc lại )  và các dây câu dài- long liners có thể kéo chúng lên mau. Dù rằng con số cá mập đánh bắt được rất khó chính xác. Ở nhiều vùng, sỉ số cá mập đã mất đi 90% hay hơn nữa, đặc biệt là cá mập đầu búa. Chính vì vậy mà Chapple cùng hai nhà khoa học trẻ tuổi đã đến vùng biển La Paz, hy vọng tái sinh sỉ số cá mập nơi chúng rất là nhiều trước đó. Họ đặt những linh kiện theo dõi chúng với những cảm giác chưa bao giờ có cách đây 10 năm mục đích tìm ra các câutrả lời   cho vài vần đề liên quan đến cá mập lẫn tránh : Hiện chúng còn bao nhiêu con ? Vây chúng đi đâu ? và chúng ta có thể nào   tạo ra những khu bảo tồn cứu sống chúng ? Nhưng câu hỏi lớn nhất có lẽ là : Khi chúng ta có các giải đáp , có còn con cá mập nào sống sót không ? Còn tiến sĩ cá Đầu búa- Dr Hammerhead Peter Kimley , nhà sinh học biển viện đại học UC Davis  đã đến vùng này từ năm 1978, khi ông mới 31 tuổi. Năm 1979, ông bắt gặp một đòan hơn 500 cá đầu búa, giữa một đàn   khổng lồ cá ngừ -skipjack   ở sườn núi phía Bắc dưới biển, tụ tập ở một diện tích chỉ bằng một sân đá banh túc cầu. Ổng đã mất hơn 10 năm kế tiếp cố tìm hiểu tại sao lại có một số tụ hợp cá mập nhiều như vậy, cách nào chúng di chuyễn mỗi ngày tìm ăn . Ông tránh dùng các thùng lặn ép khí – scuba tank hay lồng bắt cá mập, đơn giản  đánh dấu những động vật dữ tợn này với lưỡi mác – spear  và một ống thông hơi – snorkel xuống sâu khỏang 30 m nước. Kimley bắt đầu bằng những cờ hiệu plastic lưỡi mác buộc trên lưng chúng, màu sắc theo mã số khác nhau, hầu đếm nhìn cá mập từng con, mà không mất dấu tích chúng. Sau đó ông dùng một kỷ thuật tên gọi là kinh trắc viễn truyền dạt sinh học - biotelemetry, những phương tiện theo dấu phức tạp phát đi những nhịp âm thanh – acoustic pulses theo dõi được từ bên trên, nhờ một xuồng nhẹ nhỏ- small skiff   hay qua những trạm nghe ngóng dưới biển theo dõi cá mập nhiều ngày. Kính trắc viễn đòi hỏi 2 bộ phận: một thẻ dính vào cá mập và một trạm nghe ngóng nhận tín hiệu. Kimley trở thành một nhà tiền phong cho cả hai kỷ thuật, thiết lập những trạm nghe ngóng dò tìm những thẻ siêu âm phát ra những tín hiệu theo những tần số mà tai người không cảm giác nổi.
        Năm 1982, Klimley làm tiết lộ bí mật đầu tiên về cá mập đầu búa của  vùng El Bajo .   các cá mập quay tròn thảy đều là cái – female , con lớn nhất trưởng thành nhất gần giữa đàn hay ở đáy , ngạo nghễ duy trì vị trí. Ông nhìn thấy các con đực bơi lôi quanh ở ngọai vi , tiến vào khối lượng quay tít để giao cấu, càng gần trung tâm càng hay , như thế bảo đảm là con đực mạnh khỏe nhất tìm được những con cái cũng mạnh khỏe nhất. Có lẽ đây là một xếp đặt xã hội phức tạp nhất cho những động vật được xem ( một cách sai lầm ) là có óc nảo quá nhỏ . Klimley tìm thấy là núi dưới biển giống như một trục bánh xe đạp, nơi cá mập theo các nan hoa( gậy chèn xe ) – spokes rộng gần 20 km để kiếm thực phẩm . Rồi chúng trở lại dọc theo lối cũ đến trục  quay cuồng cho một ngày mới. Cách nào chúng tìm ra lối cũ về El Bajo mỗi sáng sớm ? Sau khi băn khoăn và hầu như trải giấy hầu hết địa hình sàn đáy biển và thiết lập bản đồ từ tín , năm 1993   Klimley giả thiết là cách nào đó, các đầu cá bầu dục có thể cảm giác được những thay đổi bé tí xíu  trên các đường từ tính các dòng dung nham hỏa diệm sơn tạo thành . Lý thuyết này gây nhiều tranh cải: nhưng Klimley tin rằng các cá mập đã theo các đường đi này để di chuyễn ở biển. Đây là lần đầu tiên có kẻ gợi ý là một động vật có thể sử dụng những mô hình từ tính địa phương đễ đi ngang qua sàn đáy biển. Nhiều nhà khoa học đã  dùng lý thuyết Klimley, tỉ như Ketchum ở Palagios Kakunjá và Galapagos hầu nghiên cứu cá mập đầu búa và cac mập óng ánh như tơ và tựa cá voi- whale; Hoyos Ở Guadalupe Island, cách Baja 200 km để theo dấu cá mập trắng – white sharks . Từ năm 2005 đến 2010, Chapple  cộng tác với Klimley đã ước luợng tổng số  cá mập trắng ở Trung Ca Li : chỉ còn 219 cá mập trắng, không kể các con còn qúa trẻ . Một nghiên cứu khác đếm thêm 130 con, đưa tổng số cá mập trắng của biển Mexico va California lên con số chưa đến 400 con . Gợi ý rằng các đại dương đang sụp đổ từ bên trên. Từ tháng 10 năm 2011, Chapman sử dụng kỷ thuật cải tiến gắn thêm thẻ lõi Helmhotz Viện điểu học Max Planck Institute for Ornithology và Công ty Desert Star Systems của California bổ sung thêm , để theo dõi cá mập chuyễn động cá ở vùng El Bajo . Nhưng cả ba Chapple, Hoyos và Ketchum   không còn bắt gặp môt con cámập đầu búa nào nữa cả .
 
 
        Những vi - fins cá cao giá
 
        Vậy chớ cá mập đi đâu hết rồi ? Chúng đến Á Châu theo một cách tệ hại nhất . Ở Trung Quốc , xúp vi cá cũng quan trọng cho lễ cưới như thể vòng nhẩn kim cương và rượu sâm banh ở Hoa Kỳ. Thời xa xưa như một dấu hiệu giàu sang, ngày nay vi cả phổ biến khắp nơi , đúng theo một sự cố quan trọng: Nhật dùng ở sushi ( cơm xắc lát cuốn rong khô đen sậm )  bánhbẹo và luôn cả thực phẩm nuôi mèo. Nhu cầu dòi hỏi vi cá tăng thêm , khi Á Châu giàu có hơn . Từ năm 1985 đến năm 1998 , Hồng Kông nhập cảng vi cá bừng dậy và thương mãi vi cá thế giới nhảy vọt tăng hơn 214 %. Trong thời gian này , Vùng La Paz trở nên  một vùng đánh cá mập lấy vi làm xúp, đặc biệt là cá mập đầu búa mà các ngư phủ cho là đặc biệt có vi to lớn. Giá vi cá ở thị trường Hồng Kông là trên hàng trăm đô la một cân Anh , vi cá là một thành phần thực phẩm đắt nhất thế giới. Một nghiên cứu ước lượng là thương mãi thế giới là nữa tỉ đô la Mỹ và 73 triệu cá mập mỗi năm, một đánh bắt gây sốc mạnh. Vi cá mập cũng được các tổ chức tội lỗi ,đạo tặc-mafia nhập lậu nữa. Theo Boris Worm, một nhà sinh học bảo tồn biển và chuyên viên thượng đẳng về các sĩ số cá mập ở Viện Đại học Dalhuosie Canada : ai đó đã trải 20 hay 30 năm nay về đại dương đều cho biết là họ nhìn thấy trước đây rất nhiều cá mập, nay thì không còn nhìn thấy con nào nữa cả. Những khỏang rộng lớn biển Caribbean và Địa Trung Hải nay hần như sạch- không còn cá mập.  Ỏ St Paul Rocks, cách ngòai khơi bờ biển Brasil chừng 600 dặm Anh - gần 1000 km, Charles Darwin mô tả nhưng khối đầy ắp cá mập rặng dài san hô, khi ông ngừng chân giây lát nơi này, trong chuyến viễn du danh vang. Nhưng đến năm 2011, các nhà khoa học tuyên bố là các cá mập rặng san hô Galapagos nay đã tuyệt tích. Nếu muốn bảo vệ một lòai cà mập nào, theo lời Mike Carr, nhà sinh học Viện đại học UC Santa Cruz Bắc bang Ca Li  và là một chuyên viên Vùng Biển được Bảo vệ -Marine Protected Areas ( MPA ), không cần phải bảo vệ tòan đại dương , chỉ cần bảo vệ các vị trí đặc biệt nơi chúng ta biết là chúng tụ hợp để đẻ. Năm ngóai 2012, Chánh phủ Mexico đã làm cộng đồng ngư phủ nổi giận vì một cố gắng bất ngờ thực thi một đạo luật bảo vệ cá mập ở Baja vào mùa hè, trên lý thuyết là thời gian lý tưởng cá đẻ trứng .  Đây cũng là lần đầu tiên nghiêm chỉnh sau nhiều năm qua,  Mexico bảo vệ cá mập đầu búa. Qui ước Thương mãi Quốc tế về các lòai có nguy cơ tuyệt tích – Convention on International Trade in Endangered Species ( CITES ) đã bỏ phiếu cấm bán nhiều lòai cá mập đầu búa không có hồ sơ, đe dọa trừng phạt những quốc gia không tuân thủ.
 
 
           Các lòai cá mập trên thế giới
 
      Có rất nhiều lòai cà mập trên các đại dương thế giới. Vài lòai khổng lồ, nhưng cũng có vài lòai bé nhỏ , vài lòai dữ tợn , vài lòai chỉ lo công việc mình và rất là bình tĩnh . Bạn có thể ngạc nhiên khi biết là vài lòai cá mập to lớn trên đại dương thế giới lại là những lòai hiền hậu nhất đời.  Trên thế giới có cả thảy 440 lòai cá mập, xếp thành 8 tông chi khác nhau.
      Đặc tính lý học của mỗi tông – nhóm:
 
-          A- Nhóm có vi hậu môn- anal fin, chia ra làm 5 tông :
1-          nhóm 6-7 mang cá xẽ rảnh – gill slits , và một vi lưng – dorsal fin: dạng Hexanchiforms, phát sinh từ thời đại Permian
2-          nhóm 5 mang xẽ rảnh, hai vi lưng,  vi có xương lưng- dorsal fin spines ; dạng Heterodontiformes, phát sinh từ thời Triassic
3-           nhóm không xương lưng , nhưng miệng trước hẳn các mắt là dạng Orectolobiformes , có từ thời Jurassic
4-          Nhóm không xương lưng, miệng sau mắt, không có mí mắt nháy – nictitating eyelids, có van vòng ruột non, à dạng Lamniforms, có từ thời Jurassic
5-          Nhóm không xương lưng, miệng sau mắt, có mí mắt nháy  van ruột non xoắn ốc hay cuộn lại là nhóm Carcharhiniforms  cũng có từ thời Jurassic
 
-          B- Nhóm không có vi hậu môn chia ra làm 3 tông ;
6-          Thân không giống như ráy cá( cá đuối )- raylike, miệng giữa bụng. mỏ ngắn không như răng cưa  là dạng Squaliforms , có từ thời Jurassic
7-          Thân không giống như ráy cá , mỏ dài răng cưa là dạng Pristiophoriforms có từ thời Jurassic
8-          Thân dẹp hẳn đi, giống như ráy cá ( cá đuối ) miệng ở cuối thân là dạng Squatiniforms
 
 
                10 lòai cá mập to lớn nhất thế giới :
  
1-      Cá Mập lọai cá ông – cá voi Whale Shark. Tên loài Rhincodon typus là lọai không ăn thịt sống – predators mà chỉ là một lọai chuyễn động chậm lọc ăn -filter feeder như lọai cá mập phơi nắng trên mặt nước – basking sharks. Cá mập voi này có thể dài đến 41 bộ Anh ( 12. 3 m ) và nặng đến 15 tấn. Có thể tìm ra chúng ở các đại dương nhiệt đới, nước ấm áp. Được biết là nó sống đến 70 năm và đã hiện diện cách đây 60 triệu năm rồi.
2-      Cá Mập Phơi Nắng – Basking Sharks. Tên lòai là Cetorhinus maximus là cá mập to lớn đứng hàng nhì thế giới. Cá Mập Phơi nắng có thể dài đến 12m và có con năng tới 19 tấn Cá mập khổng lồ này cũng không ăn thịt sống và chỉ là lòai lọc nước kiếm ăn .
3-      Cá Mập Trắng Lớn – Great White Sharks. Tên la tinh là  Carcharodon carcharias là một lòai cá mập nổi tiếng là đồi bại. Được biết là chúng có thể dài đến 7.9 m và nặng 2.5 tấn. Cá mập Trắng Lớn là lòai duy nhất còn sống sót của tông Carcharodon. Đáng tiếc là lòai này lại tìm thấy khắp gần bờ biển mọi đại dương. Cho nên phải coi chừng xem biển bạn muốn tắm mùa nghĩ hè có là nơi sinh thái chúng sống không.
4-      Cá Mập Cọp ( Hổ ) Tiger Sharks. Là lòai Galeocerdo cuvier  đứng hàng thứ tư trên thế giới . Nó có thể dài đến 7.3 m , nặng đến gần 1 tấn . Cũng được biết là rất đồi bại , tệ hại. Không những chúng ăn rất nhiều lòai đời sống biển mà cũng hay tấn  công người đi tắm biển. Cá mập Cọp phần lớn sinh sống ở nước biển nhiệt đới, nhưng tìm thấy rất nhiều quanh các đảo miền Trung Thái Bình Dương.
5-       Cá Mập Ngủ Thái bình Dương – Pacific Sleeper Sharks. Tên loài Somniosus pacificus , là cá to có thể dài đến 6.9 m và nặng gần 400 kí. Đặc điểm là tìm thấy chúng ở các biển cực Bắc hay cực Nam – polar waters suốt năm. Chúng phần lớn sống ở nước biển sâu, có khi dưới sâu cách mặt nước đến 1850m.
6-       Cá Mập (Đảo ) Greenland. .Tên loài Somniosus microcephalus. Cũng là một cá mập to lớn có thể tìm thấy ở Bắc Đại Tây Dương, đa số ở gần đảo Greenland và Iceland . Chúng có thể dài trên 8m  và sống đến hơn 200 năm. Chúng được xem là động vật có xương sống - vertebrate sống lâu nhất. Tuy ở Greenland chúng thường sống cách mặt nước gần 2000m , chúng thường thấy bắt được trong phim xi nê các mặt nước chỉ 6- 7 m mà thôi .
7-       Cá  Mập Lớn Đầu búa Hammerhead Shark . Tên loài Sphyrna mokarran là lòai cá mập đầu búa to lớn nhất lòai, có thể dài đến,  gần 7m . Lòai cá đầu búa lớn này có mặt khắp nơi trên thế giới như các cá mập nước biển ấm áp nhiệt đới. Tuy Cá Mập Lớn Đầu búa cũng nguy hiểm cho người chúng thường có khuynh hướng nhút nhát , cố tránh con người. Cá Mập Lớn Đầu búa nặng nhất đến hôm nay là một con cái cân nặng hơn 580 kí , bắt được ở biển Boca Grande ở bang Florida - Hoa Kỳ.
8-      Cá Mập Đập Lúa Thresher Shark  có phần lớn hơn lòai bà con tương tự là Cá Mập Đập Lúa Mắt Bự - Bigeye Thresher Shark là một lọai cá mập to lớn, có khi dài đến 5.4 m . Tìm thấy ở các đại dương nhiệt đới quanh thế giới.  Cá mập đập lúa tuy là một lòai tương đối mảnh khảnh, nhưng bạn đừng khinh thường vì các con cá xấu nết này có thể nặng đến gần 500 kí !
9-      Cá Mập Sáu Mang , Mũi Cùn Bluntnose Sixgill Shark   thường được gọi là Cá Mập Bò cái Cow Shark . Tên la tinh là Hexanchus griseus, thuộc họ Hexanchidae. Đa số bà con nó đều đã tuyệt tích . Da cá mập này có thể nâu đậm hay nâu đà , đôi khi gần như đen hẳn. Có thể dài đến 6-7 m và những con lớn có da đốm lấm chấm nữa.
10-  Cá Mập Đập lúa Mắt Bự Bigeye Thresher Shark. Tên la tinh là Alopia superciliosus, cũng có thể tìm thấy ở các đại dương nhiệt đới khắp thế giới ở độ sâu  gần 500m. Cá Mâp Đập Lúa Mắt Bự màu tím xám, có thể dài đến trên 5m và nặng đến gần 400 kí.     
 
 
      Ngành đánh bắt cá mập ở Việt Nam(Phần lớn chiếu theo Trần Văn Cương và Nguyễn Hòai Nam –  Hà Nội, tháng 4 ,2012)  
 
 
       Các lọai cá mập ở Việt Nam
 
Viện khảo cứu hải sản và các cục thủy sản Việt Nam thống kê chung các lọai cá đuối và cá mập- sharks. Nhóm cá đuối chia ra làm hai dạng : dạng cá đuối, ráy cá- rays thủy lôi- torpediniformes và dạng cá đuối- rajiformes , nhận diện ở nước nhà , phân chia ra 40 lòai- species , thuộc 19 tông chi – genus , 9 họ- families của 2 bộ - orders .
Nhóm cá mập Việt Nam tổng kê được 38 lòai , thuộc 23 tông chi ở 12 họ của 6 bộ.
-          Nhóm ( bộ) cá mập Squaliforms chỉ có 1 lòai là Centrophorus granulosus
-           Nhóm Squatiniforms cũng chỉ có một lòai là   Squatina japonica.
-          Nhóm Carcharhiniforms có 12 lòai thuộc họ Carcharhinidae : Carcharhinus albimarginatus , C. amblyrhynchoides , C. dussumieri, C. falsiformis, C. melanopterus, C. plubeus , C. sealei , C. sorrah , Carchahinus sp. , C. tillstoni , Prionace glauca , Scolodion laticauidus ; hai lòai thuộc họ Hemigaleidae là Hemigaleus microtosma và Paragaleus sp. ; 5 lòai thuộc họ Scyliorhinidae là Cephaloscyllium isabellum , Cephaloscyllium sp. , Cephaloscyllium umbratile , Halaelurus buergeri Scyliorhinus torazame ; 2 lòai họ Sphyrnidae là Sphyrna lewiniS. mokarran ; các họ chỉ có một lòai như Proscylliidae ( Proscyllium sp. ), Squalidae ( Squalus sp . ), Triakidae (Mustelus griseus )
-          Nhóm Orectolobiforms gồm 3 họ : Hemiscylliidae có 6 lòai Chiloscyllium griseum, C. indicum , C. plagiosum , C. puctatum , C. sp. , và Hemiscyllium ocellatum ; họ Rhincodontiae chỉ có một lòai là Rhincodon typus, họ Stegostomatidae cũng chỉ có một lòai là Stegostoma fasciatum .
-           Nhóm Heterodontiforms có một jhọ Heterontidae và một lòai là Heterodontus zebra
-          Nhóm Lamniforms có 3 họ : Alopiidae chỉ một lòai là Aliopas pelagicus, Lamnidae một lòai là Carcharodon carcharias và họ Pseudocarchatiidae cũng chỉ có một lòai là Pseudocarcharias kamoharai   
 
     Sách đỏ Việt Nam ghi là  7 lòai cá mập có nguy cơ tuyệt tích - endangered là    Alopias pelagicus, Stegostoma fasciatum, Rhincodon typus , Cephaloscyllium umbratile , Carcharhinus albimarginatus, Cacharhinus melanopterus , Etmopterus lucifer  ( ? ) .3 lòai rất dễ bị tổn thương- vulnerablePseudocarcharias kamoharai , Carcharodon carcharias và Carcharhinus amblyrhynchoides .
     Năm 2010 , bá cáo quốc tế cho biết ở biển Bắc Mỹ có 32 vụ cá mập tấn công mà không có bị khiêu khích, 14 vụ ở Úc Châu,  8 vụ ở Nam Phi và 6 vụ ở Việt Nam và Ai Cập … nhưng viện Hải học Nha Trang tháng 7 năm 2012 lại cho biết trong thời gian 2009 – 2010 có đến ít nhất là 10 lần cá mập tấn công người tắm ở biễn gần thành phố Qui Nhơn , tỉnh Bình Định. Ngày 18 tháng 7 năm 2009,  cá mập mắt heo – pigeye shark Carcharhinus amboinensis tấn công cắn bị thương chân nặng anh Nguyễn Quang Huynh đang bơi lội cách bờ 150m. Ngày 9 tháng giêng năm 2010, cá mập nhóm mỏ đen blacktip shark Carcharhinus limaltus tấn công làm tay anh Mang Đức Hạnh bị thương nặng, khi anh bơi lội chỉ cách bờ 10 m. Trong lúc đó có lẽ cá mập yểu điệu graceful sharks Carcharhinus amblyrhynchoides có thể đã tấn công 8 lần khác.  Theo Võ Sĩ Tuấn, phó giám đốc Hải Học Viện Nha Trang , vùng biển ngòai khơi thành phố Qui Nhơn  là sinh thái sinh sống thiên nhiên của nhiều lọai cá mập nhiệt đới, nơi cá mập thường đến gần bờ tìm thức ăn. Tuấn cũng cho biết là các trại nuôi lồng tôm hùm  gần đó cũng hút dẫn các cá mập đói lòng và hiện tượng El Nino tăng nhiệt độ và chất đặc trong nước biển này làm nhiều cá mập lầm tưởng con nguời là mồi ăn của chúng. Tuấn đề nghị là đem lồng nuôi tôm hùm ra xa hơn nữa và che chở vùng tắm bằng một lưới lớn đánh bắt cá mập.
 
      Cách đánh bắt cá mập ở Việt Nam
     Lọai dụng cụ đánh bắt cá mập chánh ở Việt Nam là dây câu dài – long line. Ngành đánh bắt cá mập phát triễn mạnh mẽ ở Việt Nam từ cuối thập niên 1980 đến thập niên 1990, đặc biệt ở các tỉng miền Trung , nổi tiếng nhất là ở đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận – Phan Thiết . Tàu đánh cá mập phổ biến có thân tàu dài 14- 17m , trang bị động cơ 45- 60 mã lực . Mùa đánh cá mập là từ tháng giêng đến tháng chín . Bắt được cá nhiều nhất là từ tháng ba đến tháng sáu  . Vì tàu này thuộc cở nhỏ , nên chỉ ra khơi được và mùa biển yên lặng từ tháng  ba đến tháng sáu. Bề dài của dây câu là từ 15km đến 30km móc từ 300 đến 600 luỡi câu. Mỗi lưỡi dùng mồi bẩy là cá ở độ sâu trung bình – pelagic, chừng 200 gr cá ngừ - tuna hay cá heo – dolphin. Cá mập lưỡi câu được rất cao 45- 100 % đều móc được cá . Cứ mỗi chuyến đi, mỗi tàu bắt được 400 – 4000 kg cá mập. Cá mập đánh bắt được nhờ dây câu khỏang chừng 21% tổng số đánh bắt được.
      Nhiều thiết bị khác cũng đánh bắt được cá mập, tuy rằng không phải là dụng cụ chánh đánh bắt cá mập :đa số dụng cụ này là lưới giả cào – trawling netlưới chăng – gillnet .Các dụng cụ này bắt luôn cả cá mạp lẫn cá đuối –rays. Tỉ lệ cá mập mỗi lần bắt được không cao ( 0.7- 1% ) Nhưng nhờ số lượng tàu tràng bị này rât cao cho nên tổng số sản phẩm cá của hai lọai lưới b này cũnh rất cao . Cho nên tổng số cá mập và cá đuối đánh bắt cũng thật là quan trọng. Lưới giả cào đánh bắt được 0.72 % tổng số cá mập và lưới chăng chừng 1% tổng số.
 
     Sử dụng cá mập ở Việt Nam sau khi đánh bắt
     Biến chế và thuơng mãi cá mập ở nước nhà như sau:
     Cá mập tươi : cá mập đánh băt được để nguyên con, còn tươi trong tàu lưới giả cào và tàu lưới chăng cho đến khi cập bến. Cá mập năng hơn 6-7 kg được cắt vi cá, nhưng cá nhẹ hơn 6 kg sẽ bán nguyên con còn cả vi.
    Cá mập khô : đã thấy ngay trên tàu giăng dây câu dài. Tàu đánh cá ngòai khơi cho nên cá mập phải để khô : làm thịt cá khô , da khô và xương khô.
    Dạ dày- stomach cá mập: được duùng làm thực phẩm
    Gan cá mập: được cắt ra làm nhiều miếng nhỏ rồi biến chế thành dầu và đựng trong lon, hộp plastic .
    Vi cá : là sản phẩm xuất khẩu
Các sản phẩm cá mập bán ra theo nhiều thể thức thị trường : thịt tươi bán cho thị trường trong nước ; thịt khô bán ở chợ Sài Gòn hay biến chế thành từng miếng nhỏ ngâm trong gia vị ;; Da , xương và gan dùng xuất khẩu sang Trung Quốc. Theo dữ liệu nghiên cứu , có 3 trùm đại gia mua cá mập . Năm 2003 có một trùm mua đến 14 tấn da cá mập. Chỉ trong đầu quý thứ nhất 2004 , một trùm mua 5 tấn da và 50 kí xương. 6 tháng đầu năm 2003 , Phú Quý bán ra 137 tấn thịt cá và 3.9 tấn vi.
  Khuynh hướngđánh bắt cá mập bằng lưới chăng có phần giảm dần trong các năm 2000- 2004. Bắt được nhiều nhất là năm 2001 ( chừng 0.41 kg /km ) và bắt ít nhất là năm 2002 ( chừng 0.18 kg/km). Đánh bắt nhiếu ít lẽ dĩ nhiên tùy thuộc mùa cá. Thông thường đánh bắt mùa gíó Đông Bắc cao hơn mùa gió  Tây Nam. Điển hình mùa gió Đông Bắc năm 2001 đánh bắt được đến 0.6 kg/km. Trái lại bắt được ít nhất là mùa gió Tây Nam năm 2003, chừng18 kg/km,  đặc biệt mùa gió  này đánh bắt giảm rỏ rệt từ năm 2000 đến 2003. Rồi thì khuynh hướng tăng trở lại từ năm 2003 đến2004 . Ứớc lượng sinh khối  cá mập cho thấy khuynh hướng suy giảm. Sinh khối cá mập ở Vịnh Bắc Việt  giảm quan trọng từ 2001 đến 2004. Mùa gió mùa 2002 , sinh khối cá mập ước lượng là 1068 tấn, năm 2003 giảm xuống 648 tấn và năm 2004 chỉ còn 626 tấn.  Ở vùng Đông Nam Á Châu sinh khối cá mập được ước lượng là 2 473- 5 629 tấn các năm 2000- 2004 .  Sinh khối cao nhất là vào mùa gió Tây Nam năm 2003 và thấp nhất và mùa gió Tây Nam năm 2004 . Ở vùng Tây Nam , sinh khối mùa đánh cá mập là 518 tấn mùa gió Tât Nam 2000và 1 534 tấn mùa gió Đông Bắc 2002 . Sinh khối mùa gió Tây nam tăng từ 1531 tấn năm 2002 đến 1 061 tấn năm 2003 và 1002 tấn năm 2004. Tóm lại, sinh khối cá mập vùng Đông Nam Á Châu ước lượng cao nhất so với các vùng khác ở Việt Nam. Sinh khối cá mập thấp nhất là ở Vịnh Bắc Việt.   
Hai cảng cá quan trọng cho ngành cá mập ở Việt Nam là : Thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận , cách thành phố Sài Gòn 200 km phía Nam Vịnh Cam Ranh và là vị trí cuối của nguyên  duyên hải miền Trung Việt Nam . Phan Thiết là nơi nổi tiếng về đánh bắt cá mập theo  phương pháp thả dây câu dài. Có hai ba bến phụ chánh là Đảo Phú Qúy và Côn Trà ( ? ).   Phú Quý nhận được số luợng đánh bắt lớn hơn, nhưng Côn Trà lại dễ cập bến hơn   và đa số chế biến xảy ra nơi đây.  Đánh bắt cá mập vùng này la đặc điểm cho hệ thống sinh thái biển «  sâu – deep » ( ? ). Vũng Tàu là một cảng cá xưa cũ( Phước Tỉnh ? ) diện tích 110 km2 , cách Thành phố Sài Gòn 125 km về phía Đông Nam. Thị xã Vũng Tàu có vài biến chế sản phẩm cá mập. Vũng Tàu có nhiều bến, nhưng Bến Đá mới là nơi sản phẩm cá mập chánh cập bến so với các bến khác. Mặt khác, Vũng Tàu là đại diện cho sinh thái miền Nam và rất dễ dàng cho tàu đến nơi. Vũng Tàu nổi tiếng về buôn bán vi cá và các sản phẩm cá mập khác, tuy rằng năm 1975 ngư dân Vũng Tàu – Phước Tỉnh đã bỏ đi sang Mỹ rất nhiều , sau khi đến đây lập nghiệp  làm ra «  một thị trấn cá » phồn thịnh , sau năm  di cư 1954- 55.               
                        ( Irvine, Nam Ca Li, ngày 22 tháng 5 năm 2013 )
 
                     
                  

 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 235007 visitors (876775 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=