thnlscantho-3
  Cà phê Việt Nam
 
5/9/2012

Cập nhật hiểu biết về mức sản xuất và xuất khẩu cà phê trên thế giới hiện nay:

 

Làm sao  cho Việt Nam cũng cố địa vị xuất khẩu cà phê hạng nhất thế giới

G S Tôn Thất Trình

 

  Ta đi ta nhớ Tây Nguyên,

Ta về ta nhớ Bình Dương, Biên Hòa .

…Cà phê phủ kín Di Linh,

Hoa thơm tỏa trắng ngút ngàn Lạc Giao

Tâm Đạo

 

( Di Linh thuộc tỉnh Lâm Đồng, cuối đường Kiển Đạ - piste Kinda thời Pháp thuộc, « con đường cà phê » miền Nam VN, đi lên Đắc Nông, Đắc Lắc, Gia Lai. Lạc Giao là tên cũ của Ban Mê Thuột – Đắc Lắc. )

 

      Xuất khẩu cà phê 6 tháng đầu năm 2012, Việt Nam đã vượt Brasil , Ba Tây.

 

   Brasil luôn luôn là một nước sản xuất và xuất khẩu cà phê hạng nhất thế giới mà  phần lớn lại là cà phê thơm ngon  cà phê chè  C. arabica, tuy tương đối ít cafêin hơn là cà phê vối C. canephora – robusta, dù rằng nay Brasil cũng tăng thêm sản xuất robusta, phần lớn ở bang Espirito Santo. Mức sản xuất cà phê robusta ở Brasil đã tăng từ 11.450 triệu bao năm 2007- 08 đến  17 .7 triệu bao năm 2012 – 13 . 97 % cà phê Việt Nam là cà phê vối robusta. Mức sản xuất robusta Việt Nam, mùa 2012-13,  ước lượng là  21. 6 triệu bao.

   Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế -International Coffee Organisation ( ICO ), ngày 16 tháng 8 năm 2012, Việt Nam đã  chở tàu bán ra ngọai quốc 14 325 000 bao (60 kg một bao)  6 tháng đầu năm 2012, hơn mức xuất khẩu Brasil 6 tháng năm nay là 13.63 % . Dù rằng mức xuất khẩu  trụt xuống 23.5 % trong tháng 6 (vì nông dân trồng cà phê không chịu bán gía thấp ), chỉ giao được 2 075 000 bao cho các nhà nhập khẩu,Việt Nam đã giữ hạng  nhất liên tục trong 5 tháng đầu năm 2012. Trị giá, theo Hải Quan Việt Nam, là  2.2 tỉ đô la Mỹ  cho gần  1.05 triệu tấn cà phê  từ  tháng giêng đến tháng sáu năm 2012.  Trong lúc đó, bộ Nông nghiệp  cho biết là  trong 7 tháng đầu năm 2012,  mức xuất khẩu cà phê đạt 1.2 triệu tấn,  đem về  cho quốc gia 2.5 tỉ đô la Mỹ , nghĩa là tăng  31.6 %   sản lượng và 25.4% trị giá so với 7 tháng năm 2011.

    Robusta  giá thấp hơn arabica rất nhiều  và gía cả sai biệt giữa  arabica và robusta cũng đã gấp đôi  tỉ xuất giá cả năm 2009 là 800 đô la Mỹ một tấn. Theo  Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam  Coffee and Cacao Association ( Vicofa ), xuất cảng  arabica Việt Nam tuy vậy cũng đã tăng nhiều mấy năm nay , từ 24 000  tấn năm 2009  lên 41 000 tấn năm 2010  và 50 000 tấn năm 2011.  Giá cả  arabica Việt Nam xuất khẩu cũng tăng gần gấp đôi  từ 2 313 đô la Mỹ một tấn năm 2009, lên đến  4261 $US năm 2011.  Cà phê arabica Việt Nam rất được  các nhà tiêu thụ ở Hoa Kỳ, Đức, Nhật và Bỉ ưa chuộng. Tuy nhiên các nhà  chế biến trái cà phê arabica ra thành các lọai hột( nhân ) thương mãi xuất khẩu được,  đều không sản xuất đủ hiện nay. Việt Nam hy vọng sẽ xuất khẩu  55 000 tấn arabica  mùa 2011- 2012 .  Bộ Nông Nghiệp Việt Nam hy vọng  sẽ nới rộng thêm diện tích arabica đất nước vào khỏang 40 000 ha ( mẩu tây ) năm 2020, sẽ chiếm 8% tổng diện tích cà phê cả nước.

      Theo thông tấn Thanh Hoa – Xinhua ngày  4 tháng giêng năm 2012,  năm 2011, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 1.2 triệu tấn cà phê , tăng 27% sản lượng  và giá cả trung bình    2005$US một tấn, tăng  thêm  49.2 % so với mùa 2010.  Hoa Kỳ là nước nhập khẩu cà phê VN  lớn nhất  chiếm 11.7% tổng lượng xuất khẩu. Đức  đứng hạng nhì ( 10.1 % tổng số ). Nhưng  các thị trường nhập khẩu Bỉ- Belgium ( tăng  92.8% theo sản lượng và  gấp ba theo giá trị ) và Hòa Lan – Netherland ( tăng  46.4% sản lượng và  giá trị tăng gấp đôi ) là những  thị trường có mức tăng trưởng mạnh nhất. Theo Reuters, Wall Street Journal , Financial Times .. .  ngày 19 tháng 2 năm 2012, Việt Nam sẽ đạt giá trị xuất khẩu mọi sản phẩm cà phê trên 2.6 tỉ $US năm 2011 và hy vọng sẽ đạt  3 tỉ $US năm 2012. Riêng  lợi tức  Việt Nam xuất khẩu hột ( nhân ) cà phê xanh – green coffee  cũng sẽ trên 2 tỉ $US.

   Theo Sở Nông nghiệp Ngọai quốc – Foreign Agricultural Service / Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ -USDA , Brasil vẫn còn là  quốc gia sản xuất nhiều cà phê nhất thế giới, nhưng biến chuyễn tùy theo thời tiết . Mùa  2008- 2009 là  53 000 000 bao - 60kg một  bao, mùa 2009/10     44 800 000 bao, mùa 2010-2011 là  54 000 000 bao, mùa 2011- 2012 là  49 200 000 bao, mùa 2012- 2013 ( tháng 6 ) là 55 900 000 bao. Trong khi sản xuất cà phê Việt Nam vẫn tăng đều mấy năm nay, từ 16 980 000 bao mùa 2008-09, lên 18 500 000 bao năm 2009-10,  19 467 000 bao năm 2010- 11, 21 000 000 bao năm 2011- 12, và  22 400 000 bao năm 2012 -13. Từ lâu , mức sản xuất cà phê Việt Nam đã vượt xa hai nuớc trước đây đứng hạng nhì, hạng ba thế giới là Inđônêxia( biến thiên từ 8 triệu bao năm  2007- 2008 đến mức cao nhất là 10.5  triệu bao năm 2009- 10 trong thời gian 2007-13  Colombia ( biến thiên từ mức cao nhất là  12.215 triệu bao năm  2007-08, mức thấp nhất  hai năm nay  là 7.5 triệu bao các mùa 2011- 12 và 2012- 13 ).  Vượt xa  hẳn Côte D’ Ivoire- Bờ Biển Ngà ( sản xuất  2.4 triệu bao năm 2009- 10, trụt  xuống thấp nhất là 1.5 triệu bao năm  2011- 12 , năm 2012- 13 có thể lên lại sản xuất 1. 8 triệu bao ), một nước sản xuất cà phê vối lọai robusta như Việt Nam  và đề cao lọai cà phê lai Arabusta thay thế Robusta trước năm 1975,  để bán theo giá arabica cao hơn ( ? ) .

 

      Ước lượng cà phê thế giới  mùa 2012- 13, ở những nước tranh dành với Việt Nam

 

       Brasil

 

      Mùa 2012- 13 , tiên đóan Brasil sẽ đạt mức kỷ lục là 55.6 triệu bao, cao hơn năm 2011-12  là 6,7 triệu bao. Phần lớn nhờ các cây trưởng thành giống cà phê chè arabica năm nay thuộc về năm « được » ( mùa )  trong chu kỳ sản xuất nhị niên – biennual production cycle của arabica ; trong khi mùa năm ngóai là năm «  thất » ( mùa ). Những chu kỳ trước tăng mạnh hơn ,nhưng chu kỳ năm nay ước đóan  chỉ tăng ít hơn  so với chu kỳ năm ngóai, vì  lẽ vùng Brasil trồng  nhiều arabica nhất Minas Gerais bị đông giá làm hư hại nhiều  cây arabica và Minas Gerais  cũng bị hạn hán.  Trái lại  muà cà phê vối robusta  tiên đóan như đã nói trên,  sẽ tiếp tục tăng gia khá nhiều  nhờ thời tiết thuận lợi và chăm sóc vườn cà phê kỷ lưỡng, giúp cây đậu trái và phát triễn lớn hơn tại vùng  Espirito Santo ( Saint Esprit ). Chỉ trên phân nữa cung cấp phụ thêm  là dùng để tăng xuất khẩu, phần còn lại đi vào tiêu thụ và làm dự trữ - stocks. Mức tiêu thụ cà phê ở Brasil mùa 2011- 12  tuy tăng thêm lại đến 45. 5 triệu bao so với mùa 2010-11 là  41.6 triệu tấn, nhưng vẫn còn thấp hơn mùa 2009- 2010 là 49,5 triệu bao. Mức tiêu thụ mùa 2012- 13 cũng sẽ chừng 44. 5 triệu bao . Và dự trữ  tuy gia tăng lên đến 2.93 triệu bao mùa 2012 -13 so  với  1.8 triệu bao mùa 2011 -12, chắc cũng sẽ giúp Brasil vẫn còn giữ hạng nhất dự trù xuất cảng 30.6 triệu bao  mùa 2012( thu họach từ tháng 10 ở Brasil)- 2013 ( kết liễu tháng 6 ).   Việt Nam đã xuất khẩu mùa 2011- 12 là 19 triệu bao ( con số xuất khẩu Brasil là  27.2 triệu bao) , và hy vọng xuất khẩu mùa 2012- 13 là  20 triệu bao ( so với  30.6 triệu bao của Brasil ).

 

       Colombia

 

      Tiên đóan  sản xuất cà phê ở Colombia chỉ là  7.5 triệu bao mùa 2012- 13 bằng mùa năm ngóai 2011-12, nghĩa là ít hơn mùa 2007- 2008 trước khủng  hỏang thế giới 2008, chừng 5 triệu bao. Các điều kiện tăng trưởng vườn cà phê Colombia có phần yếu kém, vì lẽ  nhiều vấn đề tai hại vẫn tồn tại, như nạn sâu đục trái – cherry borer và bệnh rỉ lá – rust.  Các  cây kháng bệnh rỉ lá, sâu đục trái của chương trình trồng lại giống mới cho khỏi giảm bớt năng xuất, vẫn chưa trưởng thành tuy đã gần kề. Colombia trông cậy vào hột cà phê nhập khẩu từ Ecuador và Peru đến 90% mức tiêu thụ trong nước, cũng đã tăng thêm nhiều so với  chỉ đến 20%,  trước khi mức sản xuất hạ thấp. Ước lượng mức  xuất khẩu cà phê Colombia là 6.5  triệu bao mùa 2012- 13, tương đương mùa 2011-12. Không có gì đáng cho Việt Nam lo ngại, nhất là khi cà phê chè arabica Việt Nam nay cũng bắt đầu nổi danh thơm ngon như arabica Colombia trước đây ( ? ) 

 

       Inđônêxia

 

    Đáng  cho Việt Nam lưu ý hơn là tiên đóan mức  sản xuất mùa 2012- 13 của Inđônêxia ( Nam Dương ) là 9.5 triệu bao,  một gia tăng đáng kể  thêm 1,4 triệu bao  nhờ các điều kiện thời tiết thuận lợi,  so với hai mùa trước cà phê thất bát vì mưa quá nhiều. Tuy nhiên tiên  đóan cũng còn kém hơn mùa thua họach kỷ lục 2009- 10, vì diện tích trồng cà phê  đã giảm sút  hơn 5% , khi giá cả ca cao, cao su,  cọ dừa – palm oil tăng cao hơn, khuyến dụ nông dân thay thế, chuyễn qua 3 lọai cây này.  Mức  xuất khẩu hột cà phê  Inđônêxia tiên đóan sẽ đạt 6.1 triệu  bao.

 

        Ấn Độ

 

    Đáng lưu ý hơn nữa là  mức sản xuất cà phê vối robusta Ấn Độ.  Cách đây 10 năm, mức sản xuất cà phê Ấn Độ  chia đôi, một nữa cho arabica, một nữa cho robusta. Nay robusta Ấn Độ chiếm đến gần 70 %.  Vì robusta ít cần cường sinh lao động – labor intrensive hơn , chịu đựng bệnh tật cũng tốt đẹp hơn, cho nên dân Ấn dần dần thay thế arabica già cỗi. Mức xản xuất hy vọng sẽ đạt 5.1  triệu bao, có phần ít hơn năm ngóai chừng 200 000 bao. Năm ngóai là năm Ấn Độ thu họach cà phê kỷ lục, nhờ thời tiết lý tưởng.  Tiên đóan mùa 2012- 13 , Ấn Độ sẽ xuất khẩu 4 triệu bao, tương đương 2 năm trước. Hể cà phê cao giá thì mức xuất khẩu gia tăng, giảm bớt tiêu thụ và dự trữ.

     

    Việt Nam

 

   Như đã bàn qua ở các bài về các tỉnh Bình Phước, Đắc Nông, Đắc Lắc v.v  năm 1990,  Cà phê Việt Nam chỉ có diện tích 119 000 ha, mức sản xuất là 92 000 tấn, khỏang 1. 54 triệu bao.  Năm 2000, diện tích cà phê đã tăng lên đến  562 000 ha, mức sản xuất là 802.500 tấn , chừng 13.4 triệu bao . Năm  2007-08, trước khủng hỏang 2008, Việt Nam sản xuất  chừng 18 triệu bao – 1080 000 tấn  cà phê hột ( nhân ).  Khủng hỏang 2008 đã làm mức sản xuất cà phê  trụt xuống còn 16. 980 triệu bao- 1 188 000 tấn mùa 2008-09 . Nhưng các năm sau,  mức sản xuất tăng đều  mỗi năm, lên đến con số ước lượng là 22.4 triệu bao-1 344 000 tấn  mùa 2012- 13 ;  14,5 lần hơn năm 1990 và hơn mùa 2011- 12 khỏang  1. 4 triệu bao ; nhờ phối hợp  các điều kiện  tăng trưởng thuận lợi  và cây mới trồng đã đến thời kỳ thu họach. Giá cà phê cao ở thương trường quốc tế càng khuyến khích nông dân trồng thêm cà phê mới. Ngòai tuyễn chọn tinh dòng robusta  mới cao năng hơn nữa , có lẽ  cũng nên lựa chọn phương cách bón phân , tưới dặm, chăm sóc , tĩa cành …  và tuyễn chọn các tinh dòng robusta thích hợp, cao năng hơn cho các đất đỏ -vàng và đất xám  vùng thấp, vì đất đỏ  nâu trồng trọt ở nước nhà đã khan hiếm ( trừ phi cộng tác mở rộng thêm  cà phê về phía Nam Lào và Đông Bắc – Tây Bắc Cam Bốt , như đã làm với cao su , hột điều ? ).  Tuy Việt Nam đã có chương trình tăng gia sản xuất cà phê arabica cao giá hơn , nhưng sản xuất arabica Việt Nam hiện tại còn rất thấp kém , chỉ chừng 800 000 bao cho mùa 2012- 13 , tuy đã gấp đôi mùa  2007- 08 ( chỉ 400 000 bao arabica ), một con số bé tí  so với mức sản xuất thế giới mùa 2012- 13  khỏang 88.1 triệu bao. Ngòai các vùng Di Linh - Lâm Đồng, Pleiku, Kontum, Sơn La, Tuyên Quang, nên nới rộng chương trình khảo cứu, khuyến nông arabica ở Lai Châu- Điện Biên, Trường Sơn Tây phía Lào , nhất là cao nguyên Boloven,  lẫn phía Việt ; thay vì chỉ nghĩ đến cao su chịu lạnh mà thôi .     

               ( Irvine, Nam Ca Li,  ngày 28 tháng 8 năm 2012 )                

 

 


 


 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 243433 visitors (901526 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=