thnlscantho-3
  Cập nhật rầy nâu- P2
 
17/5/2012

 

Nghiên cứu cập nhật các đặc tính sinh học và sinh thái của rầy nâu (Nilaparvata lugens) nhằm quản lý hữu hiệu cho sản xuất lúa bền vững ở đồng bằng sông Cửu Long

 

Nguyễn Văn Huỳnh[1], Trần Thanh Thy2, Bùi Minh Phong2, Nguyễn Hữu Phước2 Lê Thị Trúc Linh2  

 

 

Phần 2

 

2. 2. Diễn tiến rầy nâu vào đèn tại các địa phương của mỗi tỉnh

          Đồ biểu về mật số rầy vào đèn trong tháng cho thấy ngay trong một tỉnh có các địa phương với ngày gieo sạ hay hệ thống canh tác khác nhau cũng đưa đến các đỉnh cao của rầy nâu vào đèn khác nhau. Hình 4 cho thấy trong tháng 8/2007 ở tỉnh Đồng Tháp có 3 đỉnh cao của rầy vào đèn tại 3 huyện với thời gian xuất hiện cách nhau từ 10-12 ngày. Cũng trong tháng 8 ở Bạc Liêu có hai cao điểm của rầy vào đèn cũng cách nhau trong vòng 10 ngày, đặc biệt là hai đỉnh cao này xảy ra trong cùng một huyện, như ở thị xã Bạc Liêu và huyện Vĩnh Lợi. Biểu đồ vào đèn trong tháng 8 tại các huyện của tỉnh An Giang càng phức tạp hơn (Hình 4), có lẽ vì đây là vùng canh tác đa vụ lúa như ba vụ ở huyện Chợ Mới, lại thêm vùng miền núi ở huyện Tri Tôn và Tịnh Biên có hệ thống canh tác riêng biệt hơn.

 

 Hình 5. Sự khác nhau về thời điểm của rầy nâu vào đèn ở các xã lân cận của huyện Cai Lậy (Tiền Giang) vào cuối vụ Đông Xuân 2006-07 (Lê Hữu Hải, thong báo cá nhân).

 

Hình 5 cho thấy ngay trong một huyện như Cai Lậy (Tiền Giang) cũng có nhiều đỉnh cao vào đèn tại mỗi xã, chênh lệch nhau vài ba ngày và rải đều ra trong suốt hơn 10 ngày.

Các số liệu phức tạp này rất khó làm cơ sở để chỉ đạo chung cho toàn tỉnh hay toàn huyện trong thời gian mà các vụ lúa thường chênh lệch nhau về ngày gieo sạ, như từ sau vụ Đông Xuân đến các vụ Xuân Hè, Hè Thu, Thu Đông liên tiếp nhau, rồi kế đến lúa mùa. Do đó, để dự báo tốt về mật số cao của rầy nâu di cư nhằm bố trí gieo sạ lúa “né rầy” cần có bẫy đèn bố trí ngay ở từng tiểu vùng, với số lượng càng nhặt càng tốt.

 

 

 Hình 4. Diễn tiến phức tạp của mật số rầy vào đèn ở một số địa phương của tỉnh Đồng Tháp, Bạc Liêu và An Giang (2007).

          2.3. Diễn tiến mật số rầy nâu và mức độ gây hại trong vụ lúa Hè Thu 2007

          Mật số rầy nâu vào đèn và mật số thực tế đếm được (con/m2) đồng thời (cùng lúc) trên lúa trong ruộng của 7 mô hình trình diễn về “Áp dụng biện pháp IPM để trừ rầy nâu và bệnh Vàng Lùn” đã được ghi nhận tại 7 tỉnh thuộc các vùng sinh thái canh tác lúa khác nhau ở ĐBSCL, theo thứ tự có thời gian gieo sạ từ sớm đến muộn như tại Vị Thuỷ (Hậu Giang, 5-6/4/2007), Thạnh An (Cần Thơ, 28/4), Cao Lãnh (Đồng Tháp, 3/5), Tân Bình Thạnh (Tiền Giang, 1-6/5), Càng Long (Trà Vinh, 7/5), Mỹ Tú (Sóc Trăng, 11/5) và Thủ Thừa (Long An, 26/5). Kết quả được phân tích như sau:

1. Đối với rầy vào bẫy đèn (đặt ngay tại ruộng thí nghiệm của mô hình), kết quả cho thấy có có 3 lứa rầy trong một vụ (Hình 6):

1) Lứa 1 xuất hiện vào giai đoạn khá trể của lúa non trên ruộng, 20-25 ngày tuổi, sau khi xuống giống đã né được cao điểm trước của rầy vào đèn. Lứa rầy này thường có mật số không cao và mạ đã đẻ nhánh nên nguy cơ bị truyền bệnh Vàng Lùn không nặng. Tuy nhiên, cá biệt có hai trường hợp: (1) ở Cao Lãnh (Đồng Tháp) có mật số rầy vào đèn rất cao (trên 120.000 con/đêm) do di cư từ cánh đồng bên cạnh đang thu hoạch, và (2) ở Càng Long (Trà Vinh) có mật số rầy vào đèn cũng rất cao (60.000 con/đêm, Hình 7) nên phải diệt bằng thuốc.

 

 

 

 Hình 6. Mật số rầy nâu vào đèn (trên) và trong ruộng lúa (dưới) từ 01/5 đến 02/8.2007 trong vụ lúa Hè Thu tại huyện Mỹ Tú (Sóc Trăng).

 

 

 Hình 7. Mật số rầy nâu vào đèn (trên) và trong ruộng lúa (dưới) từ 01/5 đến 30/7.2007 tại mô hình trong vụ Hè Thu ở huyện Càng Long (Trà Vinh).

 2. Đối với mật số rầy nâu trên ruộng lúa. Kết quả trình bày trong biểu đồ phía dưới của mô hình (Hình 6) cho thấy trong suốt vụ lúa cũng có 2 đến 3 đỉnh rầy tương ứng với 3 đỉnh rầy vào đèn nói trên, nhưng mật số thường không cao theo như mật số rầy vào đèn. Ngoại trừ ở mô hình của Cao Lãnh (Đồng Tháp) và Thủ Thừa ở Long An có mật số lên đến trên 3.000 con/m2 (ngưỡng hành động), còn 5 mô hình khác đều có mật số rầy rất thấp trong khoảng 1.000 con/m2 trở lại nên hoàn toàn không có sử dụng thuốc trừ sâu (kể cả mô hình ở Thủ Thừa của Long An). Điển hình như mô hình ở huyện Càng Long (Trà Vinh) có hai cao điểm của rầy nâu vào đèn của lứa 1 và lứa 2 (như đã trình bày ở trên, Hình 7) nhưng cao điểm của mật số rầy đếm được trên ruộng lúa lúc đó chỉ trong khoảng 100-200 con/m2 nên nông dân không phun thuốc; cũng tương tự cho mô hình của Thạnh An (Cần Thơ) và Tân Bình Thạnh (Tiền Giang).

Các kết quả này cũng phù hợp với kết quả của thử nghiệm mô hình IPM như trên trong vụ Thu Đông 2007 do Cục Bảo vệ thực vật (2007) đã thực hiện và báo cáo: ở Tiền Giang thì mật số rầy vào đèn vào 25 ngày sau khi đã sạ (NSKS) “né rầy” là 2.425 con/đêm nhưng trên ruộng lúa thì mật số đếm được chỉ khoảng 120 con/m2, ở Kiên Giang thì rầy xuất hiện 400.000 con/đêm vào 30 NSKS nhưng mật số trên ruộng lúa chỉ là 210 con/m2, ở An Giang mật số vào đèn là 8.650 cn/đêm vào 25 NSKS nhưng mật số trên ruộng lúa chỉ có 150 con/m2, và ở Long An mật số vào đèn là 268.125 con/đêm vào 27 NSKS nhưng mật số đếm được trên ruộng lúa chỉ là 280 con/đêm.

Như vậy, các kết quả này cho thấy trong một vụ lúa - Hè Thu và cả Thu Đông - các lứa rầy di cư đến sau giai đoạn lúa non (khoảng 20 ngày đầu) có thể không tuyệt đối lưu trú, nên không gia tăng mật số cao và không gây hại nặng cho lúa. Điều này có thể giải thích phần nào như sau:

1. Diện tích lúa được gieo sạ đồng loạt lớn quá nên mật số thành trùng bị phân tán, đồng thời cũng làm cho chúng khó bắt cặp (rầy nâu không bắt cặp trước khi di cư – xem bài trước của cùng tác giả) nên ít đẻ trứng.

2. Hơn nữa lúa được sạ thưa, bón phân cân đối (ít dùng phân đạm) nên ấu trùng nở ra khó bùng phát mật số mặc dù mô hình ở Tiền Giang dùng giống Nếp Bè không có mang gen kháng rầy.

 

 Hình 8. Mật số rầy nâu, rầy xanh đuôi đen và bọ xít thiên địch C. lividipennis vào đèn trong vụ Hè Thu tại huyện Mỹ Tú (Sóc Trăng), từ 1.5 đến 12.8.2007.

 

3. Ngoài ra, mật số của một số loài thiên địch quan trọng như bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis (Miridae, Hemiptera), kiến ba khoang Paederus fuscipes (Carabidae, Coleoptera) cũng có mật số rất cao vào bẫy đèn và ngay cả trên đồng ruộng. Đặc biệt ở Mỹ Tú (ST) mật số của bọ xít C. lividipennis vào 49 và 73 NSKG vào đèn cao hơn mật số rầy nâu, đạt đến 8.000-9.000 con/đêm (Hình , nên mật số của chúng trên ruộng lúa cũng lên đến 670 con/m2 vào 49NSKG (Hình 6). Ngoài ra, mật số của một số loài nhện nước như Pardosa spp., Tetragnatha spp., Atepina adelinae…, nhất là loài Pardosa pseudoannulata) ở nhiều mô hình như của Vị Thuỷ (Hậu Giang), Mỹ Tú (Sóc Trăng), Càng Long (Trà Vinh), Cao Lãnh (Đồng Tháp), Long Định (Tiền Giang) và Thủ Thừa (Long An) có mật số trong ruộng lúa rất cao (Hình 9).

 

 

 Hình 9. Sự phong phú của nhện Pardosa spp. (chủ yếu là P. pseudoannulata) điều tra được trên ruộng lúa Hè Thu ở ba địa điểm khác nhau tại ĐBSCL.

Tóm lại, nên xuống giống đồng loạt để né được rầy nâu di cư đến vào đầu vụ (ngay khi vừa xuống giống), rồi tiếp tục theo dõi rầy vào bẫy đèn ngay trên đồng ruộng, và kết hợp với kiểm tra cụ thể và chặt chẽ ruộng lúa để có thể ít phải dùng đến thuốc trừ sâu khi chưa thật sự cần thiết. Các mô hình này đều rất thành công về phòng trừ rầy nâu và bệnh Vàng Lùn, đạt năng suất rất cao từ 4-6 tấn lúa/ha (kể cả với giống nếp không có khả năng kháng rầy) như đã được báo cáo trong hội nghị tổng kết do Bộ Nông nghiệp & PTNT và FAO tổ chức vào ngày 17.8.2007 tại tỉnh Long An và ngày 28.8.2007 tại Bộ Nông nghiệp & PTNT, Hà Nội.

 3. Kết quả của mô hình phòng trừ rầy nâu ở cấp cộng đồng

          Bảy mô hình thực hiện tại 7 tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long (Bảng 4) có diện tích tổng cộng là 359,4 ha với 452 hộ nông dân tham gia (trung bình 51,3 ha với 65 nông dân). Tất cả đều sạ đồng lọat để “né rầy” qua theo dõi kết quả từ bẫy đèn, áp dụng nguyên tắc “Ba giảm” về mật độ sạ, bón phân đạm và chỉ phun thuốc trừ sâu khi nào mật độ rầy lên đến ngưỡng hành động (3.000 con/m2) (Bảng 5 và 6).

Bảng 4. Địa điểm và quy mô của mô hình trình diễn về phòng trừ rầy nâu ở cấp cộng đồng trong vụ Hè Thu 2007 ở 7 tỉnh của ĐBSCL.

 

 Nhờ gieo sạ né rầy đồng lọat nên tất cả đều tránh được rầy trong 18 ngày đầu. Đợt sau rầy mới vào bẫy đèn ở tại mô hình và có nơi với mật số rất cao như tại Đồng Tháp với 130.868 con/đêm vào 30/5 (27 ngày sau khi sạ), Trà Vinh với 62.760 con/đêm vào 25/5 (18 NSKS) nhưng trên đồng ruộng mật số rầy đáp xuống rất thấp (Hình 7). Do đó, ba mô hình ở Hậu Giang, Trà Vinh và Sóc Trăng không có phun thuốc trừ sâu, ba mô hình ở Cần Thơ, Tiền Giang và Long An chỉ phun thuốc Buprofezin và Fenobucarb vào giai đọan trổ tại ruộng có mật số cao, ngọai trừ mô hình tại Cao Lãnh (Đồng Tháp) có phun thuốc 2 lần khi mật số rầy trong ruộng vượt ngưỡng hành động vào lúc 27-28 và 39-41 ngày sau khi gieo vì vị trí của mô hình có các ruộng lân cập sắp thu họach nên rầy di chuyển sang (Bảng 6). Điều này cho thấy rằng từ 27 ngày sau khi sạ, khi cây lúa hết mẫn cảm với bệnh Vàng Lùn và mật số rầy nâu ở dưới ngưỡng hành động (như quy định trong Sổ tay hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp & PTNT) thì phun thuốc trừ sâu là không cần thiết. Ngay cả ở trường hợp bất thường như tại Đồng Tháp thì cũng đã giảm được 50% số lần phun thuốc cho cả vụ so với ruộng của nông dân ở ngòai mô hình (Bảng 6). 

Bảng 5. So sánh về mật độ sạ và phân bón của mô hình với ruộng đối chứng của nông dân.

 

 

 

 Bảng 7. So sánh về năng suất và lợi nhuận của mô hình với ruộng nông dân.

 

 Về năng suất, hầu hết các mô hình đều cho năng suất (trung bình 5,15 t/ha) bằng hoặc cao hơn so với ruộng đối chứng (5,02 t/ha) của nông dân bên ngòai, đưa đến lợi nhuận bình quân của mô hình là 8.328.000 đ/ha so với 6.538.000 đ/ha của nông dân ngòai mô hình (Bảng 7). Đặc biệt là mô hình ở Tiền Giang dùng giống nếp OM84 không có gen kháng rầy và ở Cần Thơ dùng giống OM2517 có tính kháng rầy rất yếu nhưng cũng đều cho năng suất rất cao.

 Kết luận và đề nghị

 Các nghiên cứu trong điều kiện nhà lưới trên giống nhiễm cho thấy rầy nâu có vòng đời trung bình 22,38 (21-26) ngày, con cái có dạng cánh ngắn chiếm đa số khi ăn trên cây lúa ở gian đọan đẻ nhánh và ngược lại khi cây lúa đã trổ để di cư tìm nguồn thức ăn mới.

Rầy cánh dài vào đèn không biết rõ đã bắt cặp hay chưa nhưng buồng trứng của con cái chưa phát triển nên chưa đẻ trứng. Con cái sống lâu trung bình 10 ngày, bắt đầu đẻ sau 3-4 ngày và số con trung bình nở ra cho mỗi con cái lên đến 360 con nếu được nuôi chung với con đực, và ngược lại hầu như không nở nếu không có con đực.

Ở các tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, kết quả của bẫy đèn cho thấy mỗi tháng có một cao điểm của rầy vào đèn và tháng sau thường sớm hơn tháng trước khỏang 5 ngày. Các cao điểm này thường không rõ nét ở các địa phương có nhiều kệ thống canh tác khác nhau hay trong tình hình canh tác gối vụ như hiện nay.

Mô hình phòng trừ rầy nâu ở cấp cộng đồng do Cục Bảo vệ Thực vật phối hợp với FAO thực hiện cho thấy mỗi vụ lúa có ba lứa rầy vào đèn tương ứng với mật số đếm được trên đồng ruộng. Tuy nhiên, có khi mật số rầy vào bẫy đèn rất cao nhưng mật số đếm được trên đồng ruộng lại rất thấp nên không gây hại đáng kể cho năng suất lúa do áp dụng tốt kỹ thuật canh tác để hạn chế khả năng gây hại của rầy.

          Đề nghị:

1.     Nên áp dụng chặt chẻ kỹ thuật gieo sạ lúa “né rầy” đồng lọat trên diện rộng như đang phổ biến hiện nay vì rầy di cư có khả năng sinh sản rất cao khi đáp xuống ruộng lúa.

2.     Nên từng bước có biện pháp cụ thể để cắt vụ lúa đang canh tác liên tục hiện nay thành hệ thống canh tác ba vụ rồi hai vụ nhằm tránh sự phát triển mật số quanh năm của rầy nâu.

 Cảm tạ

 Nghiên cứu được thực hiện trong đề tài trọng điểm của Bộ Nông nghiệp & PTNT “Nghiên cứu đánh giá tính kháng, khả năng chống chịu và biện pháp phòng trừ rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá của bộ giống lúa cho vùng ĐBSCL và Đông Nam bộ (2006-2009)” do Ts. Phạm Văn Dư chủ trì. Xin chân thành cám ơn các đồng nghiệp Hồ Văn Chiến (Giám đốc Trung tâm Bảovệ thực vật phía Nam), Phạm Văn Quỳnh (nguyên Trưởng Chi cục Bảo vệ Thực vật Cần Thơ), Lê Hữu Hải (Trưởng Phòng Nông nghiệp huyện Cai Lậy – Tiền Giang) và các đơn vị nói trên đã cho phép chúng tôi sử dụng số liệu bẫy đèn và hỗ trợ nhiều mặt để công trình này được hoàn thành.

 

Tài liệu tham khảo

 Bộ môn Bảo vệ Thực vật - Đại học Nông nghiệp 4. 1980. Một số kết quả nghiên cứu về rầy nâu hại lúa. Trong “Kết quả công tác phòng chống rầy nâu ở các tỉnh phía Nam (1977-1979)”, Nxb. Nông Nghiệp, tr. 143-155.

Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. 2006. Sổ tay Hướng dẫn Phòng trừ rầy nâu truyền bệnh Vàng lùn, Lùn xoắn lá hại lúa. 20 tr.

Chau, L.M. 2004. Management of rice resistance to brown planthopper. In “Rice: Environment and Likelihood for the Poor”, Proceedings of Mekong Rice Conference, 15-17 October, 2004, Hochiminh city, Vietnam, pp. 197-202.

Dyck, V.A., B.C. Misra, S. Alam, C.N. Chen, C.Y Hsieh và R.S. Rejesus. 1979. Ecology of the brown planthopper in the tropics. Trong Brown Planthopper: Threat to Rice Production in Asia, International Rice Research Institute, Philippines, tr. 61-98.

Huynh, N.V. 1977. New biotype of the brown planthopper, Nilaparvata lugens (Stal) in the Mekong delta of Vietnam. Int. Rice Res. Newsltr. 2(6): 10.

Kisimoto, R. và V.A. Dyck.1976. Climate and rice insects. Trong “Climate and Rice”, IRRI, Philippines, tr. 367-391.

Kuno, E. 1968. Studies on the populations dynamics of rice leafhoppers in paddy fields. Bull. Kyushu Agric. Exp. Statn. 14: 131-246.

Kuno, E. và N. Hokyo. 1970. Comparative analysis of the population dynamics of rice leafhoppers, Nephotettix cincticeps Uhler and Nilaparvata lugens Stal, with special reference to natural regulation of their numbers. Res. Popln. Ecol. 12: 154-184.

Ling, K. C. 1973. Synonymies of insect vectors of rice viruses. International Rice Research Institute, 29 tr.

Mochida, O. và T. Okada. 1979. Taxonomy and biology of Nilaparvata lugens (Hom., Delphacidae). Trong “Brown planthopper: Threat to rice production in Asia”, International Rice Research Institute, Philippines, tr. 21-43.

Nasu, S. 1964. Rice leafhoppers. Trong “The Major Insect Pests of the Rice Plant”, tr. 493-523, Proceedings of Symposium at International Rice Research Institute on 9.1964,  Johns Hopkins Press, Maryland, USA.

Ngạc, B. V., N. Q. Hùng, N.Đ. Ngoan, L. P. Lân và N. V. Minh. 1980. Một số kết quả nghiên cứu về rầy nâu hại lúa ở các tỉnh phía Nam. Trong “Kết quả công tác phòng chống rầy nâu ở các tỉnh phía Nam (1977-1979)”, Nxb. Nông Nghiệp, tr. 80-114.

Ou, S. H. 1985. Rice diseases (Xuất bản lần thứ hai). Commonwealth Mycological Institute. 380 tr.

Reissig, W. H., E. A. Heinrichs, J. A. Litsinger, K. Moody, L. Fiedler, T. W. Mew và A. T. Barrion. 1986. Illustrated guide to Integrated Pest Management in rice in tropical Asia. IRRI. Los Banos, Laguna, Philippines. 366 tr.

Viện Bảo Vệ Thực Vật. 1980. Kết quả ba năm nghiên cứu rầy nâu và bệnh lúa Lù Xoắn Lá ở phía Nam (1977-1979). Trong “Kết quả công tác phòng chống rầy nâu ở các tỉnh phía Nam (1977-1979)”, Nxb. Nông Nghiệp, tr. 33-79.

Xuan, V. T. và N.V. Huynh. 1979. Characteristics of NN3A and some promising rice varieties resistant to the brown planthopper, Nilaparvata lugens (Stal) in the Mekong delta, Vietnam. Int. Rice Res. Newsltr. 4(3): 14-15.

 

 

 

 

 

 



[1] Phó giáo sư, 2Sinh viên làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ và đại học, Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp & SHƯD, Đại học Cần Thơ.


 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 235007 visitors (876765 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=