thnlscantho-3
  Bệnh dịch tả vịt
 
25/7/2012

 
BỆNH DỊCH TẢ VỊT
( Duck Plague, Duck Virus Enteritis-DVE )
 
                      K/S Đặng Hoàng Minh
 
1. Đặc điểm chung và sự phân bố của bệnh :
Bệnh dịch tả vịt là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do nhiễm Herpesvirus ở vịt, ngỗng … với biểu hiện đặc trưng là vỡ mao mạch, xuất huyết các tổ chức, tróc niêm mạc ruột, có tổn thương ở các hạch lâm ba và thóai hóa trong nhu mô các tổ chức nội quan..
Bệnh được phát hiện lần đầu do Baudet (1923) trong một ổ dịch ở Hà Lan. Sau đó, Bos (1942) cũng lại thấy ổ dịch như Baudet đã phát hiện, mô tả các đặc điểm lâm sàng và bệnh tích của vịt bệnh, phân lập được virus và khẳng định virus nầy, không phải thuộc nhóm virus cúm gia cầm, sau khi làm các thực nghiệm tiêm truyền virus cho gà, bồ câu, chuột lang, thỏ. Virus được gọi tên là “Virus dịch tả vịt” (DVE).
Ngày nay, bệnh dịch tả vịt được xem là một bệnh truyền nhiễm của các loài thủy cầm nuôi và thủy cầm hoang dã ở hầu hết các nước trên thế giới.
Ở Việt Nam bệnh được phát vào năm 1960 của thế kỷ trước( Trần Minh Châu - 1967), với một số ổ dịch ở đồng bằng sông Hồng làm cho vịt chết nhiều, gây thiệt hại lớn về kinh tế. Hiện nay, hàng năm các ổ dịch tả vịt vẫn xảy ra ở nhiều tỉnh nhưng thường thấy ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.
   
 
2. Nguyên nhân bệnh
Bênh gây ra do một Herpesvirus. Virus có DNA và chỉ có một serotyp duy nhất. Nhưng có một số chủng độc lực mạnh, trung bình và yếu khác nhau khi gây bệnh cho các loài thủy câm. Đặc biệt, các chủng virus có độc lực cao thường tìm thấy trong phân của thủy cầm.
 Đây là một bênh do virus gây ra, rất nguy hiểm, lây lan nhanh, vịt chết nhiều có thể 80-100%, điều trị không có kết quả. Bệnh thường xảy ra lúc vịt chuyển sang chạy đồng, vịt đang thời kỳ thay lông, và những tháng mưa nhiều, lạnh, ẩm bệnh dể xảy ra.
 
3. Dịch tể
- Động vật cảm nhiễm; Trong tự nhiên vịt, ngỗng, thiên nga và một số loài thủy cầm hoang thuộc bộ ngỗng Anseriformes, bị nhiễm virus và phát sinh bệnh.
Các ổ dịch tả vịt thường xuất hiện ở các đàn thủy cầm nuôi, thuộc các giống vịt trắng Bắc Kinh, vịt Khaki Khampell, vịt Ấn Độ, vịt cỏ Việt Nam, vịt xiêm siêu thịt (R47), ngỗng trắng Hungary, ngỗng xám Trung quốc…
Tuy nhiên trong tự nhiên, các loài vịt trời, ngỗng trời có sức đề kháng với virus cao hơn vịt và ngỗng nuôi.
- Đường lây truyền bệnh: Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường tiêu hóa, do vịt, ngỗng khỏe ăn thức ăn hoặc uống nước có mầm bệnh.
Virus không lây truyền dọc (lây truyền qua trứng).
Một số vịt, ngỗng nuôi cũng như thủy cầm hoang sau khi khỏi bệnh, vẫn mang và thải virus qua phân trong một thời gian. Một số loài thủy cầm hoang, có sức đề kháng cao, nhiễm virus, mang virus, nhưng không có dấu hiệu lâm sàng, đóng vai trò tàng trữ và truyền virus trong môi trường tự nhiên.
 
4.Triệu chứng cơ bản
-Thời gian ủ bệnh từ 2-7 ngày. Đôi khi thủy cầm chết trong khoảng thời gian từ 1-5 ngày trước khi có triệu chứng lâm sàng, khi hiễm virus có độc lực cao.
- Sốt cao, ủ rũ, chậm chạp, thường tách đàn đứng yên.
- Mắt viêm đỏ, nhem mắt chảy nước mắt, thường trống ở các bụi râm, bóng cây râm mát.
- Vịt tiêu chảy phân loãng màu trắng, hoặc phân xanh vàng, có mùi rất tanh, hậu môn dính đầy phân.
- Nhiều con bi sưng đầu, hầu và cổ đôi khi cũng bi sưng, nên người ta gọi là “vịt phù đầu”.
                                   Vịt bị phù đầu, chân liệt
 
- Một số vịt có biểu hiện hội chứng thần kinh như: lắc đầu, vẩy mỏ, mỏ cắm xuồng đất.
Người ta cũng thấy một số ổ dịch tả vịt, vịt có nhiễm khuẩn thứ phát do vi khuẩn tụ huyết trùng (Pasteurella Multocida) và vi khuẩn E.Coli. Do đó, bệnh trở nên trầm trọng làm vịt bệnh chết nhanh với tỷ lệ 100%.
 
              Vịt chết trong tư thế xụi giò bại cánh
5. Bệnh tích
- Da bị xuất huyết lấm tấm màu đỏ.
- Tổ chức dưới da có chất keo nhày vàng nhạt.

         
Xuất huyết nổi ban trên đường tiêu hóa
 
 
    Ruột sung huyết và có chất bả đậu màu vàng
 
 
 
                            Nốt hoại tử trên ruột non
 
- Niêm mạc thực quản, dạ dày tuyến ( cuống mề ) phủ dịch nhớt trắng, xám hôi, gạt bỏ chất dịch nhờn thấy những điểm xuất huyết lấm tấm đỏ .
- Niêm mạc hậu môn, trực tràng xuất huyết đỏ.
 
                       Niêm mạc hậu môn xuất huyết
- Gan sưng tụ huyết, có trường hợp biến màu xanh sẫm, túi mật sưng to.
- Màng não xuất huyết đỏ.
- Ở vịt đẻ : mổ ra phát hiện buồn trứng tụ huyết, xuất huyết đỏ bầm , trứng non biến dạng, đôi khi bị vỡ nằm trong xoang bụng.
 
6. Phòng bênh
- Bệnh dịch tả vịt không có thuốc đặc trị, phòng bệnh bằng cách tiêm vaccin là biện phát tốt nhất để bảo vệ đàn vịt.
- Vịt mới nở nhỏ mũi với vaccin dịch tả: 1 lọ chứa 1.000 liều pha với 100cc nước sinh lý mặn, nhỏ mỗi con 2 giọt vào hai mắt hoặc mũi, khi vịt được 20-25 tuổi phải chích lập lại.
-Nếu vịt nuôi đẻ, trước khi đẻ tiêm lập lại. Và sau đó cứ 3 tháng tiêm lập lai một lần bằng vaccin dịch tả.
Cách sử dụng :
1 lọ vaccin dịch tả đông khô: pha sinh lý mặn 9 phần nghìn dùng cho: 300-500 vịt con, hoặc 200-300 vịt đẻ, tiêm dưới da cổ. Trước và sau khi tiêm vaccin nên bổ sung cho vịt ăn hoặc uống Bio-Vitamine C 10%, Vitamine B.Complex, Bio-Electrolytes nhằm tăng cường sức khõe, giúp cho vịt tạo kháng thể tốt hơn. Đồng thời tránh trường hợp khi tiêm vaccin dich tả cơ thể vịt suy yếu, các loại vi khuẩn tấn công gây bệnh.
- Không chăn thả vịt tự do trên đồng (thả đồng), mà phải quy vùng chăn thả để hạn chế vịt bị lây nhiễm mầm bệnh. Khu chăn thả cần có lưới rào xung quanh và định kỳ phun thuốc sát trùng.
- Khi có dịch xảy ra, phải xử lý đàn vịt, làm vệ sinh chuồng trại, nơi chăn thả và phun thuốc sát trùng, để trống chuồng trại sau 1-2 tháng mới nuôi trở lại.
- Phải giũ thức ăn và nguồn nước sạch cung cấp cho đàn vịt, hết sức tránh các yếu tố làm ô nhiễm nguồn nước.
- Đảm bảo thức ăn cho vịt có đầy đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt cần cung cấp Pre1mix khoáng và Pre1mix vitamie cho đàn vịt, để nâng cao sức kháng bệnh cho vịt.
- Diệt chuột quanh chuồng trại và hạn chế các loài chim tiếp xúc vớ đàn vịt, vì chúng là động vật môi giới truyền nhiễm bệnh cho vịt. 
 
6. Trị bệnh
Không có thuốc trị bệnh dịch tả.
Trường hợp vịt bị bệnh dich tả có thể sử dụng các biện pháp sau để hạn chế phần nào tỉ lệ chết.
- Dùng kháng sinh, vitamine pha nước cho uống để ngừa các bệnh khác phụ nhiễm và tăng sức đề kháng cho cơ thể vịt. Đồng thời tiêm vaccin dich tả tăng liều gấp đôi so với liều phòng cho những con vịt nặng trong đàn.
- Loại bỏ những con yếu.
- Chuyển chổ nuôi và sát trùng dụng cụ, máng ăn, máng uống, chuồng trại ( đối với vịt đẻ ) bằng các loại hóa chất như: vôi bột, Biosept, Virkon, Longlife…
 
                         
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  Số lượt người đọc từ ngày đầu tháng: 243659 visitors (902704 hits)  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=